Thứ Ba, 31 tháng 12, 2013

Ngoài hôn nhân - thơ Xuân Trường

Ngược về một sáng mai xưa
Áo sương mỏng mảnh trăng thừa ngoài đêm
Bờ nghiêng vai gió bay mềm
Lời trăm năm đã bắt đền dở dang

Mây vần dạo nhớ lang thang
Lúa thì con gái đòng vàng quê xanh
Tay thời gian níu chân anh

Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2013

Giọt máu đào - Nodar Dumbadze

Người dịch: Hiếu Tân

Cái đầu cắt trụi cúi thấp, thằng bé đứng dưới gốc cây đoan chán ngán nhìn đôi chân trần bê bết bùn của nó. Tay nó cầm một túm cá bống biển tòn teng trên đầu sợi dây câu, bụng nghĩ sao ông già kia giống cha mình thế. Cũng mái đầu hoa râm, cũng đôi lông mày đen rậm, cái mũi to, đôi mắt sắc có nét cười buồn bã, rồi cả đến cái giọng nói khàn khàn. Bây giờ mình nhắm chặt mắt lại và tưởng tượng xem nào, ông ấy đúng là giống cha mình như lột. Và thằng bé nhắm tịt mắt lại.

Thứ Hai, 23 tháng 12, 2013

Bán vàng - thơ Nguyễn Duy

Tâm hồn ta là một khối vàng ròng
Đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ
Mảnh này vì con, mảnh này vì vợ
Vì bạn bè và cha mẹ em ta.

Giữ ngọc gìn vàng biết mấy công phu
Ta giàu lắm mà con ta đói lắm
Ta ngất ngưởng mà vợ ta lận đận

Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013

Chớp bể mưa nguồn - thơ Đinh Hùng

Có kẻ nghe mưa, trạnh mối sầu,
Vắt tay chờ mộng suốt đêm thâu.
Gió từ sông lại, mưa từ biển,
Không biết người yêu nay ở đâu?

Tôi ngủ bâng khuâng một gối buồn,
Giường lênh đênh nổi giữa băng sơn.
Xoay mình, giận mảnh chăn hờ hững,

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2013

Lại thằng nhóc Emil - Astrid Lindgren - P2

Emil đưa thế giới vào quy củ

Thứ Bảy, ngày 12 tháng Sáu, ngày Emil có vài vụ làm ăn may mắn tại phiên đấu giá ở Backhorva.
Chủ nhật ngày 13 tháng Sáu, ngày Emil ba lần can đảm thử nhổ răng hàm cho cô Lina, và sau đó bôi xanh lè cả mặt bé Ida.
Thứ Ba, ngày mồng 10 tháng Tám, ngày Emil bỏ con ếch vào giỏ đồ ăn và sau đó gây chuyện kinh khủng đến nỗi hầu như không ai muốn nhắc chuyện đó nữa.
Một số ngày trong cuộc đời Emil, những ngày mà nó vừa bày đủ trò nghịch ngợm, vừa làm được nhiều việc tốt.
Chủ nhật, ngày 14 tháng Mười một, ngày diễn ra cuộc vấn đáp về tín ngưỡng ở trang trại Katthult và Emil nhốt bố nó trong buồng Trisse.

Lại thằng nhóc Emil - Astrid Lindgren - P1

Emil mắc đầu trong liễn súp

Thứ Ba, ngày 22 tháng Năm, ngày Emil chui đầu vào liễn súp.
Chủ nhật, ngày mồng 10 tháng Sáu, ngày Emil kéo bé Ida lên đỉnh cột cờ.
Chủ nhật ngày mồng 8 tháng Bảy, ngày Emil “sống cuộc đời vui nhộn” tại lễ hội vùng Hultsfred.

Emil làng Lönneberga là tên một thằng nhóc sống ở làng Lönneberga. Đó là một thằng nhóc hiếu động và bướng bỉnh chứ không ngoan ngoãn được như các bạn, mặc dù trông nó dễ thương. Mà quả dễ thương thật những lúc nó không gào thét.

Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2013

Ba gã cùng thuyền - Jord. J. Clapka (Ch 15 - hết)

Chương Mười lăm

Tôi ưa thích công việc - Phương pháp làm việc của tay và lưỡi - Những bước đầu trong môn bơi thuyền - Đi bè - Tay mơ - Nhấm cái bè - Kinh nghiệm đầy mình trong môn thể thao thuyền buồm.

Sáng hôm sau ba tên dậy muộn. Chúng tôi quan tâm đến tình trạng xấu bụng của Hari nên ăn sáng rất khiêm tốn (quyết không để chút gì thừa!). Sau đó rửa bát, thu dọn đồ đạc (thật là những công việc quỉ tha ma bắt, nó giải đáp cho tôi được phần nào cho câu hỏi, không hiểu các bà phù nù chẳng phải làm công ăn lương chi hết, mà cứ ra vẻ bận bịu suốt ngày là cớ làm sao!).
Đến mười giờ thì cả thuyền đã tụ hội đủ quyết tâm để bắt đầu một ngày dài cày kéo trên dòng sông. Để đa dạng hóa cuộc viễn du, sáng hôm đó chúng tôi không kéo thuyền bằng dây chão mà đi bằng chèo. Hari cho rằng muốn phân phối sức lực một cách hợp lý nhất thì tôi và Jord sẽ chèo còn hắn ngồi ở đằng lái.

Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Ba gã cùng thuyền - Jord. J. Clapka (Ch 10 - Ch 14)

Chương Mười

Đêm nghỉ đầu tiên - Tấm vải tuồn xỏ lá - Cái ấm quỉ quyệt và cách sử lý - Bữa tối - Mọi chuyện đều phải đi qua con đường của dạ dày - Chuyện xảy ra với ông bố Jord - Đêm mất ngủ.

Tôi và Hari đã nghĩ đến việc lịch sử lặp lại của câu chuyện xảy ra ở âu thuyền U-nin-rơ-pho. Jord lôi con thuyền tới âu Xơ-ten-da, ở đó chúng tôi đổi ca, tên nào cũng có cảm giác rằng mình đã phải đi bộ đến bốn chục dặm, phải lôi con thuyền nặng dăm chục tấn. Mãi rồi cũng tới nơi dự định nghỉ đêm vào tám giờ rưỡi, dạt thuyền vào bờ trái rồi bắt đầu ngó nghiêng tìm chỗ neo đậu. Thoạt đầu cả bọn định cố chèo đến đảo Ha-chi Vĩ đại, một hòn đảo có phong cảnh đẹp, nơi con sông rẽ nhánh tạo ra một thung lũng xanh tuyệt vời. Chỗ đó có vô số các cù lao và vịnh nhỏ nhưng chẳng hiểu sao không tên nào tỏ ra mặn mà với phong cảnh như hồi sáng nay, để ngủ đêm đầu tiên cả bọn sẵn sàng thỏa mãn với lô đất nhỏ nằm giữa bến phà và nhà máy lọc hơi ga. Lúc này chúng tôi chỉ muốn ăn tối và lên chuồng ngay tắp lự. Thuyền được cập vào mũi đất có tên là “mũi pich-nich”, cả bọn đổ bộ lên một miếng đất xinh xẻo nằm dưới bóng một cây du to như cây dương xỉ của thời tiền sử.

Ba gã cùng thuyền - Jord. J. Clapka (Ch 5 - Ch 9)

Chương Năm

Bà Pa-pi-sơ đánh thức - Dự báo thời tiết - Chuyến phà - Thằng lỏi con bà bán rau - Đám đông tụ tập - Trang trọng tiến vào ga Oa-téc-lô - Đường sắt Đông-Nam - Bơi đi, hỡi con thuyền.

Bà Pa-pi-sơ phải đánh thức chúng tôi vào sáng hôm sau. Bà ta gõ cửa và hỏi:
- Các ngài có biết bây giờ đã gần chín giờ rồi không?
- Chín giờ? - Ngồi ở trên giuờng tôi thốt lên.
- Chín giờ rồi. - Bà chủ nhà đáp qua ổ khóa cửa. - Tôi sợ rằng các ngài đã quá giấc chăng?
Tôi lay Hari nói cho hắn biết việc gì đã xảy ra. Hắn bảo:

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2013

Ba gã cùng thuyền - Jord. J. Clapka

Đôi lời về tác giả.

Jord Jerome Clapka (1859-1927) là nhà văn Anh, nổi tiếng về những chuyện hài hước, tên của ông được nêu trong tất cả các sách Bách khoa toàn thư của những nền văn hóa lớn của nhân loại, cuốn “Ba gã cùng thuyền” viết năm 1889 và nhiều tác phẩm khác như “Chiếc áo ji-lê ở tầng bốn,” “Ba anh chàng trên chiếc xe đạp” đã được dịch sang nhiều thứ tiếng và được chuyển thể sang phim ảnh từ những năm đầu của thế kỉ truớc.
“Ba người cùng hội cùng thuyền” là cuốn truyện hài hước gồm nhiều chương, người đọc có thể xem từng chương biệt lập và thưởng thức tính khôi hài rất “Ăng-lê” của tác giả.

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Tâm sự nàng Thúy Vân - thơ Trương Nam Hương

Nghĩ thương lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị yêu lệ chảy đã đành
Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim

Ơ kìa!
Sao chị ngồi im?

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Mụ ấy hư hỏng - Hans Christian Andersen

Ông thị trưởng đang đứng ở cửa sổ. Ông ta diện một áo sơ-mi mỏng thêu hoa, có lá sen bằng đăng-ten trước ngực, trên đó lóng lánh một chiếc kim đầu bằng kim cương. Ông vừa mới cạo râu xong. Ông làm đứt một tí ở mặt, tạm thời rịt vào đấy một mẩu giấy báo.
- Thế nào, bé con!
Em bé đi qua là con một chị thợ giặt nghèo khổ. Khi đi qua cửa nhà ông thị trưởng, em đã lễ phép ngả mũ chào. Cái mũ lưỡi trai đã gập đôi vì em vẫn cuộn và nhét mũ vào túi. Em bé dừng lại với một vẻ lễ độ, khúm núm như đứng trước nhà vua. Quần áo em tồi tàn nhưng rất sạch sẽ, vá víu cẩn thận. em đi một đôi guốc kếch xù.

NGÀY MAI QUỐC HỘI TỰ THÚ TRƯỚC DÂN - nhà văn Phạm Đình Trọng

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Từ lâu người dân Việt Nam đã thừa biết Quốc hội này là của ai. Nhưng hàng ngày cả hệ thống truyền thông đông đảo với công suất cực lớn của Nhà nước Cộng sản Việt Nam, những quan chức của Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam, những ông bà nghị sĩ của Quốc hội Việt Nam vẫn rổn rảng, vẫn véo von, vẫn ào ạt, cấp tập, xối xả rằng Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhân Dân, Quốc hội thể hiện ý chí và nguyện vọng của Nhân Dân. Thực chất có đúng như vậy không, ngày mai, thứ năm, 28.11.2013, Quốc hội sẽ phải tự thú trước Nhân Dân, trước lịch sử khi những ông nghị, bà nghị biểu quyết quyết định số phận bản Hiến pháp năm 2013.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2013

Kẻ rởm đời - Morley Callaghan

Dịch giả: Lê Bá Kông

John Hartcourt, chàng sinh viên, chợt trông thấy cha chàng ở quầy bán sách trong tiệm bách hóa. Thoạt tiên anh cũng không dám chắc khi đứng giữa đám đông đang xô đẩy dọc theo lối đi, nhưng ở màu da sau gáy ông già, và ở chiếc mũ phớt bạc màu có cái gì mà anh quen thuộc lắm. Harcourt đang đứng với cô gái mà anh yêu, chờ mua cho cô một cuốn sách. Suốt buổi chiều anh đã nói chuyện với cô gái một cách say sưa; nhưng vẫn có một vẻ nhút nhát lo sợ, dường như trong thâm tâm anh vẫn còn nỗi niềm ngạc nhiên ngây thơ, khi cô gái vui sướng được đi với anh. Từ dưới chiếc mũ rơm rộng vành, khuôn mặt xinh xắn và đẹp một cách rắn rỏi với một vẻ tự tin bình thản, luôn luôn ngẩng nhìn anh và thỉnh thoảng mỉm cười khi anh nói. Đó là thái độ thường xuyên của họ khi nói chuyện với nhau không bao giờ dám bộc lộ tình yêu chan chứa và nồng nàn. Hartcourt vừa mua xong cuốn sách và đang móc túi lấy tiền, với một dáng điệu tự nhiên và sẵn sàng, làm ra vẻ xưa nay anh vẫn quen mua sách tặng những cô gái thì ông già tóc bạc đội mũ phớt phai màu ở đầu kia quầy hàng quay nửa người về phía anh, và Hartcourt thấy rằng anh đang đứng chỉ cách cha anh có vài bước.

Thứ Bảy, 2 tháng 11, 2013

Cái chết của một viên Công sứ

Perret là một quan cai trị hạng ba, tốt nghiệp trường Hành chính Thuộc địa Paris (Pháp), được bổ nhiệm làm Công sứ Thái Bình từ 2-4-1913 đến 17-8-1913. Khi mới nhậm chức đi kinh lý được ba phủ huyện, chưa kịp khám đến đê điều, thì đột nhiên huyện Thư Trì báo vỡ đê Phú Chử. Perret, tuần phủ Phạm Văn Thụ và lục lộ đến thì chỗ vỡ đã to lắm rồi. Chỉ trong một ngày đã huy động được 10 vạn dân phu toàn tỉnh và điện lên Thống sứ Bắc Kỳ xin trợ cấp tiền gạo để hàn đê. Cách mấy hôm sau, nước lên mạnh quá, không thể đắp theo được nữa, mới chịu rút phu về đắp giữ quanh vòng thành phố.

Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2013

Bay đêm - Antonie de Saint Exupéry

Châu Diên dịch 

1


Bên dưới đôi cánh bay, những quả đồi đã rạch sâu thành đường xé nước thẫm màu trong ánh vàng ban chiều. Đồng nội rạng rỡ ánh sáng, sáng kéo dài đến bất tận: ở đất nước này đồng nội không khi nào ngừng hắt lên ánh vàng, cũng như vào lúc tàn đông, chúng không khi nào ngừng hắt lên màu trắng tuyết.
Trên đường chở chuyến tàu thư Patagonie [Vùng phía Nam Argentina giữa dãy núi Andes và Thái Bình Dương] từ cực Nam châu Mỹ về Buenos Aires, phi công Fabien nhận ra những dấu hiệu chiều buông xuống giống như nước một bến cảng: từ cái bằng lặng, từ những gợn sóng nhẹ nhàng do những áng mây êm đềm khẽ họa nên. Anh bước vào một cửa biển mênh mông và diễm phúc.

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Nghĩa cử cuối cùng. - Truyện ngắn sưu tầm

Ben bệnh rất nặng, nhà thương và các bác sĩ đã chê và ông được đưa về nhà để nằm hấp hối.
Cả gia đình, họ hàng xa gần cũng đã tụ họp và tất cả đang chuẩn bị mọi thứ để lo cho đám tang ông thật chu tất.
Mọi thành viên trong gia đình đều tất bật, mọi người đều mong muốn ông được hài lòng trong những giây phút cuối đời mà mỉm cười nơi chín suối. Cha xứ cũng được mời tới đọc kinh cầu nguyện cho ông.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Xem “Nguyệt cô hóa cáo” - thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát

Thôi đừng khóc nữa Nguyệt Cô!
Tìm đâu thấy ngọc bây giờ mà mong
Giá em đừng sống hết lòng
Giá đừng yêu, chả mơ mòng làm chi
Giá đừng khao khát mỗi khi
Trăng lên soi bóng rừng khuya sum vầy
Thì đâu ngọc mất trắng tay

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Hữu duyên và vô duyên - Một điển tích hay

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ;
Vô duyên đối diện bất tương phùng.
Dĩ ẩm ngã trà hoàn ngã trản,
Trường An hoa cổ dĩ bồng bồng.
---------
Truyện rằng ngày trước, lâu lắm rồi, ở bên Tầu (cái xứ chó chết mà nhiều chuyện hay phết), có nhà phú hộ, gia tư địch quốc mà chỉ sinh hạ được có một người con gái. Có điều an ủi là cô gái vừa nhan sắc, vừa nết na lại tài năng xuất chúng, từ nữ công gia chính, đến văn chương, cầm kỳ thi họa gì cô cũng tinh thông.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 10)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

10

Đavit chống khuỷu tay nhổm dậy và nhìn quanh mình. Những cây đèn đường đã tắt đi, nhưng bầu trời đã rạng và mảnh trăng nửa vành đang chiếu sáng. Y chẳng chút khó khăn nhận ra mình đang nằm trên bãi cỏ héo trong công viên nhà thờ, dưới đám cành cây vươn dài trụi lá.
Y cố sức để đứng dậy. Y cảm thấy yếu vô cùng, người y lạnh cóng, đầu y quay cuồng. Nhưng rồi y cũng đứng lên được. Y chuyệnh choạng bước mấy bước trên lối đi, nhưng lại phải dực vào thân cây để nghỉ.
- Ta không còn đủ sức để đi về nhà, - y tự nhủ, - không bao giờ ta về kịp...

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 9)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

9

Hai người đàn bà nói chuyện với nhau đã mấy tiếng đồng hồ. Họ ngừng lại một lúc vào buổi xế trưa để đi dự một cuộc họp của Đội quân Cứu tế, rồi cuộc nói chuyện lại tiếp tục và kéo dài đến nửa đêm vẫn chưa dứt. Một trong hai người cố sức đem lại nghị lực và tự tin cho người kia, nhưng hình như không đạt được kết quả.
- Bà có biết không, bà Hôm, - người phụ nữ nói, - tôi nghĩ rằng mặc dù nói như vậy bà có thể cho là kỳ quặc, nhưng tôi nghĩ rằng từ nay trở đi bà sẽ bớt đau khổ. Tôi nghĩ đây là vố chơi khăm tệ hại nhất của ông ấy đối với bà. Ngón đòn cuối cùng này là sự trả thù mà ông ta đã đe dọa bà từ khi bà bỏ ông ấy. Nhưng bà hẳn hiểu rằng, bà Hôm ạ, tự làm cho mình trở nên rất tàn nhẫn và từ chối không để cho bọn trẻ đi, đó là một chuyện, còn nung nấu một ý định giết người và thực hiện ý định đó thì lại là một chuyện khác hẳn. Tôi không tin có người nào lại làm như vậy được.

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 8)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

8

“Nếu có cách nào làm cho người ta nghe được mình nói giữa cái tiếng kêu cọt kẹt và tiếng rít xào xạc kinh khủng như thế này thì ta đã muốn nói với Giorgiơ lời cảm ơn vì hắn đã giúp đỡ cho xơ Êđi và em trai ta trong cái giờ phút khó khăn nhất ấy, - Đavit Hôm nghĩ thầm. - Nhất định là ta sẽ không chịu phục tùng ý muốn bắt ta phải thay thế chỗ của hắn, nhưng ta sẽ sẵn lòng tỏ cho hắn thấy là ta hiểu sự giúp đỡ của hắn đối với hai người kia”.
Những ý nghĩ này vừa lướt qua đầu y thì người đánh xe bò liền kéo dây cương ghìm ngựa lại, tưởng như hắn nghe được những ý nghĩ ấy.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 7)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

7

Người đánh xe bò đã đưa Đavit Hôm vào một căn phòng lớn, cửa sổ có chăng lưới sắt, tường màu sáng và trần trụi. Một dãy giường kê dọc tường, nhưng chỉ một giường có người nằm. Họ ngửi thấy mùi thuốc nhạt thếch. Một người mặc đồng phục gác ngục ngồi ở mép giường; và Đavit Hôm hiểu rằng y đang ở trong bệnh xá của một trại giam.
Một bóng đèn điện treo trên trần, và nhờ ánh sáng đèn, Đavit Hôm thấy trên giường một người bệnh trẻ tuổi, gương mặt đẹp nhưng hốc hác. Vừa thoáng nhìn thấy người tù, y liền giật mình. Y quên mất rằng y đã có một tình cảm dịu dàng hơn đối với Giorgiơ. Bây giờ y lại sắp sửa xông vào hắn với cơn thịnh nộ của y.

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 6)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

6

Đavit lại thấy mình bị ném vào đáy thùng xe. Tâm hồn y bị xáo trộn vì một nỗi căm giận không những đối với tất cả mọi người mà đối với bản thân y nữa. Sao mà lúc nãy y lại điên rồ quỳ sụp xuống như một kẻ phạm tội ăn năn hối hận dưới chân Xơ Êđi? Giorgiơ hẳn đã chế nhạo y. Một người đàn ông phải biết gánh chịu những hậu quả hành vi của mình. Y không hiểu vì sao y đã có những hành vi ấy. Thật là lố bịch nếu chạy đâm bổ xuống chỉ vì một đứa con gái nói rằng yêu y. Phải, sự điên rồ ấy là thế nào? Phải chăng đó là tình yêu? Nhưng y đã chết, người con gái kia cũng đã chết. Thế thì đó là loại tình yêu gì vậy?

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 5)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

5

Cô xơ bé nhỏ tội nghiệp đang hấp hối, cảm thấy mỗi lúc một yếu đi. Nàng không đau đớn, nhưng nàng cố chống lại sự mệt mỏi và cái chết, như trước kia khi đang chăm sóc người ốm, nàng thường chống lại cơn buồn ngủ. “Ôi! Giá được nằm nghỉ thì thích biết mấy, nhưng chưa thể nghỉ được”, lúc ấy nàng đã nói với cơn buồn ngủ như vậy, và nếu nàng vẫn phải chợp mắt đi một lát, nàng cũng nhanh chóng thức dậy để trở lại với nhiệm vụ của mình.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 4)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

4

Đó là một gian phòng hẹp và dài, khá rộng rãi; cái căn nhà nhỏ ở ngoại ô này chỉ gồm có gian phòng ấy và một gian khác nhỏ hơn dùng làm buồng ngủ. Gian phòng có một bộ đèn treo chiếu sáng, và dưới ánh sáng đèn, gian phòng trông có vẻ niềm nở và tươi vui. Người ta thấy những người trong nhà này thích thú bày biện làm cho gian phòng này có vẻ là một căn hộ. Cửa ra vào mở ra ở một bên, và bên cạnh cửa là một bếp lò nhỏ. Đó là nhà bếp, và tất cả các dụng cụ gia đình đều được tập trung tại đó. Chính giữa gian phòng được bày biện thành phòng ăn với một cái bàn tròn, hai ba chiếc ghế dựa bằng gỗ sồi, một chiếc đồng hồ treo tường lớn, và một tủ buýp phê nhỏ để đựng bát đĩa. Bộ đèn treo ở trên bàn, đủ để chiếu sáng cả phòng khách, tức là phía cuối gian phòng, gồm cái tràng kỷ bằng gỗ gụ, cái bàn tròn độc trụ, tấm thảm hoa, một cây cọ trồng trong chậu bằng sứ xinh đẹp, và rất nhiều ảnh.

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 3)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

3

Đồng hồ vừa điểm tiếng cuối cùng xong, một tiếng cọt kẹt lạc điệu và chói tai xuyên qua không khí.
Tiếng cọt kẹt vang lên cách quãng như là phát ra từ một chiếc bánh xe khô dầu, nhưng đó là một tiếng kêu xé tai và khó chịu đến nỗi một chiếc xe tồi tàn nhất cũng không thể phát ra tiếng kêu như vậy. Tiếng kêu ấy gây nên sự lo âu. Nó làm thức dậy như một mối linh cảm về tất cả những nỗi khổ ải và đau đớn mà người ta có thể tưởng tượng được. Cũng may mà phần đông những người thức đón giao thừa không nghe được tiếng cọt kẹt ấy.

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 2)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

2

Cũng trong buổi chiều cuối năm này, nhưng muộn hơn, lúc đêm đã buông xuống, ba người đàn ông ngồi uống bia và rượu trắng trong cái công viên nhỏ bao quanh ngôi nhà thờ thành phố. Họ ngồi trên một bãi cỏ héo, dưới mấy cây đoạn có cành màu đen lấp lánh ướt. Họ đã qua buổi tối trong một quán rượu nhỏ, và khi quán đóng cửa, họ kéo đến đây ngồi uống rượu ngoài trời. Họ thừa biết đêm nay là đêm lễ thánh Xinvetxtrơ, chính vì thế mà họ đến ngồi ở công viên nhà thờ. Họ muốn gần cái đồng hồ, nghe mười hai tiếng chuông nửa đêm và chạm cốc mừng năm mới.

Chủ Nhật, 1 tháng 9, 2013

Chiếc xe của Thần Chết - Selma Lagerlöf (chương 1)

Selma Lagerlöf

Chiếc xe của Thần Chết

Ngọc Thọ dịch

1

Một cô gái tội nghiệp của Đội quân cứu tế đang hấp hối.
Nàng đã mắc một chứng lao phổi phát triển nhanh và ác liệt, không sao cưỡng được quá một năm. Khi còn đủ sức, nàng vẫn tiếp tục đi thăm kẻ khó và làm tròn nhiệm vụ của mình; nhưng khi sức nàng đã kiệt, người ta đưa nàng vào một viện điều dưỡng. Ở đấy nàng được chăm sóc mấy tháng, nhưng sức khỏe chẳng tăng lên được tí nào,và khi hiểu rằng mình đã hết phương cứu chữa, nàng trở về bên mẹ, bà có riêng một căn nhà nhỏ trong một đường phố ngoại ô. Ở đó, nằm trong một căn buồng hẹp tồi tàn, nơi nàng đã trải qua thời thơ ấu và tuổi thanh xuân, nàng chờ đợi cái chết.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

Ngôi nhà của Matriona - Aleksandr Solzhenitsyn (P 5)

Aleksandr Solzhenitsyn

Ngôi nhà của Matriona

Phần 5

Trời vừa rạng sáng, các bà các chị đã đưa từ hiện trường về tất cả những phần thi thể còn lại của Matriona trên một chiếc xe trượt tuyết, bên trên đậy tạm một chiếc bao bẩn thỉu. Người ta bỏ cái bao ra, rửa sạch thi hài. Cả đôi chân, một nửa thân mình và toàn bộ tay trái lẫn hết vào nhau trong một đống bèo nhèo. Một phụ nữ làm dấu thánh giá và nói:
- Chúa đã để lại tay phải cho bà. Lên trên ấy bà cầu tụng Chúa...

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Ngôi nhà của Matriona - Aleksandr Solzhenitsyn (P 4)

Aleksandr Solzhenitsyn

Ngôi nhà của Matriona

Phần 4

Suốt hai tuần lễ, căn nhà phụ không chịu nộp mình cho máy kéo! Hai tuần lễ ấy Matriona cứ ra ngẩn vào ngơ như kẻ mất hồn. Bà quá đỗi đau lòng về việc ba bà em về thấy sự tình, đã hùa nhau vào mắng chị là ngu ngốc khi đem cho mất căn nhà, đòi từ mặt chị rồi đùng đùng bỏ đi.
Cũng vào những ngày này, con mèo thọt bỏ nhà đi hoang rồi mất hút luôn. Hết chuyện này đến chuyện khác. Càng nẫu ruột thêm.
Cuối cùng, đường sá đang sũng nước không đi lại được đã rắn lại dưới trời băng giá. Một ngày tươi sáng bừng lên, nắng vàng rực rỡ, lòng người nhẹ nhõm lâng lâng. Tối hôm trước, Matriona đã có một giấc mơ đẹp. Ngay từ sáng, bà đã biết rằng tôi đang muốn chụp một bức ảnh có người nào đó đứng bên một cỗ máy dệt kiểu cổ (quanh đây có hai nhà có loại máy dệt này, họ dệt thảm thô). Bà cười ngượng nghịu:

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2013

Ngôi nhà của Matriona - Aleksandr Solzhenitsyn (P 3)

Aleksandr Solzhenitsyn

Ngôi nhà của Matriona

Phần 3

Matriona đã quen có tôi, tôi cũng đã quen có bà, và chúng tôi sống với nhau một cách thật thà dung dị. Bà không gây trở ngại gì cho công việc buổi tối kéo dài dằng dặc của tôi, không căn vặn thế này thế khác. Cho đến thời điểm đó, tôi không thấy ở bà cái thói tò mò tọc mạch thường thấy ở phụ nữ, cụ thể là cho đến thời điểm đó, bà tỏ ra tế nhị tới mức chưa hề hỏi thăm tôi đã có vợ hay chưa, lấy vợ từ bao giờ. Các bà các chị ở Talvono cứ xoắn lấy bà mà hỏi thăm về tôi. Bà bảo họ:
- Ai muốn biết thì đi mà hỏi người ta. Tôi chỉ biết anh ấy là người nơi khác đến thôi.

Ngôi nhà của Matriona - Aleksandr Solzhenitsyn (P 2)

Aleksandr Solzhenitsyn

Ngôi nhà của Matriona

Phần 2

Vâng, đúng là như vậy. Hơi thở dữ dằn của mùa đông đang phả đến khiến lòng người hoảng sợ. Xung quanh những rừng là rừng, nhưng chất đốt vẫn chẳng kiếm đâu ra được. Cần cẩu vẫn quay tròn trên các đầm than nhưng than bùn thì không bán cho dân mà chỉ chở về cho thượng cấp cùng cánh ăn theo: nhà giáo, thầy thuốc, công nhân nhà máy thì được cấp phát từng ô tô một. Chẳng có quy định gì về nhiên liệu cả, mà cũng không nên hỏi về chuyện đó.
Chủ tịch nông trang đi lại trong làng đôn đốc kiểm tra, trao đổi, nói đủ thứ chuyện, riêng chuyện chất đốt thì chẳng bao giờ đề cập đến. Thì chính ông ta cũng tích trữ mà. Trước sau mùa đông cũng sẽ về, dù chẳng có ai mong đợi.

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2013

Ngôi nhà của Matriona - Aleksandr Solzhenitsyn (P 1)

Aleksandr Solzhenitsyn

Ngôi nhà của Matriona

Aleksandr Isaevich Solzhenitsyn (sinh 1918), nhà văn Nga, giải thưởng Nobel Văn chương 1970.
Ngôi nhà của Matriona là một trong những truyện nổi tiếng nhất của ông.

Phần 1

Tại km 184 tuyến đường sắt Matxcơva - Murom và Kazan, có đến hơn nửa năm sau ngày xảy ra sự cố, tất cả các chuyến tàu đều giảm tốc, chạy thật chậm. Hành khách cứ dán mũi vào cửa kính, kéo ra cửa lên xuống: đang sửa đường hay sao vậy? Hay tàu chạy sai giờ?
Không. Qua khỏi đoạn đường này, tàu lại bắt đầu tăng tốc, hành khách trở về chỗ. Riêng cánh lái tàu là biết rõ ngọn ngành. Và cả tôi nữa.

1

Mùa hè 1956, từ sa mạc nóng bỏng và bụi bặm, tôi trở về nước Nga mà chưa biết đi đâu. Chẳng một nơi nào trên đất nước có người đang đợi hay vẫy gọi tôi - tôi biệt tích đã mười năm. Tôi đơn giản muốn về miền Trung cho đỡ nóng, có tiếng lá rừng xào xạc. Những muốn đi, đi mãi để rồi mất hút vào nơi sâu kín nhất của nước Nga, nếu có nơi nào như vậy.

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Hủ Nho - Nguyễn Thế Duyên

Lão đi lại phía cô lễ tân đang ngồi trực tại sảnh ngoài tòa soạn.
- Tôi vào gặp anh Nhân tổng biên tâp.
Lão nói với một giọng bình thản. Cô lễ tân nhìn lão với ánh mắt đầy nghi ngại.
- Dạ! Thưa bác bác vào gặp bác Nhân có việc gì ạ?
Lão ngạc nhiên nhìn cô gái hỏi lại.
- Cô không biết tôi là ai à?
Cái giọng đầy tự tin của lão khiễn cho cô gái sợ đến tái cả mặt. Nhìn cái mặt tái mét vì hoảng sợ của cô gái lão cảm thấy thích thú. Có thế chứ! Mình vẫn còn là người “Nói có kẻ nghe, đe có kẻ sợ”.
- Tôi là Chu Văn giáo sư, tiến sỹ. - Lão nhấn mạnh vào bốn từ “giáo sư, tiến sỹ”.- Trường đại học tổng hợp.

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Chiếc chuông của Ông - Phyllis Caldwell

Pappy là một ông già vui tính. Ông có mái tóc bạc trắng luôn được cắt và chải gọn gàng. Mắt ông xanh, tuy đã phai màu vì năm tháng vẫn tỏa ra một hơi ấm từ bên trong. Gương mặt ông rất buồn rầu, nhưng khi ông cười, ngay cả những nếp nhăn cũng dịu đi và cùng mỉm cười theo ông.
Ông có tài huýt sáo và thường vui vẻ huýt sáo mỗi ngày trong khi phủi bụi hay quét cửa tiệm cầm đồ của ông. Mọi người quen ông đều tôn trọng và kính nể ông. Không ai biết được ông có một nỗi buồn bí mật đằng sau sự vui vẻ đó.
Đa số khách hàng của ông không trở lại để lấy lại món đồ của mình, và ông không bán được nhiều, nhưng ông không quan tâm. Với ông, cửa hàng là một sự giải trí đem lại niềm vui nhiều hơn là một phương tiện kiếm sống.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

Ở Paris - I. Bunin

Khi ông đội mũ - lúc đi ngoài phố hay khi đứng trong tàu điện ngầm - khi mái tóc hung đỏ cắt ngắn lởm chởm, lốm đốm bạc của ông không lộ ra ngoài, qua vẻ tươi tắn của khuôn mặt gầy cạo nhẵn, qua dáng đi ngay ngắn và vóc người dong dỏng trong chiếc áo bànhtô dài bằng vải không thấm nước, người ta cứ ngỡ ông chưa quá bốn mươi. Thế nhưng đôi mắt ông lại chứa đựng một nỗi buồn khô khan, và ông thường chuyện trò, cư xử như một người đã nếm trải nhiều điều cay đắng trong đời.
Có thời, ông đã thuê một trang trại ở Provence và nghe nhàm tai vô số chuyện tiếu lâm của vùng này, nên đôi khi, trong những câu chuyện thường là ngắn gọn của mình, ông thích chêm vào đôi mẩu chuyện đùa Provence với giọng mai mỉa. Nhiều người biết chuyện ông bị vợ bỏ từ khi còn ở Constantinopol, và từ hồi ấy đến nay, ông vẫn sống với vết thương lòng đeo đẳng. Chưa bao giờ ông thổ lộ bí mật về vết thương lòng này với ai, nhưng thỉnh thoảng lại vô tình nhắc tới nó, - khi câu chuyện có liên quan đến phụ nữ, ông thường nói với giọng khó chịu:

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Buổi Chiều Mời Em Uống Rượu - Yên Sơn

Mời em
            nhấp chén rượu suông
Gọi trăm nỗi nhớ,
                          lòng vương vấn
                                                  lòng
Xin em hát khúc núi sông
Cho đêm rực rỡ nắng hồng ban mai
Nợ cơm áo
                 gánh oằn vai
Giấu trong tim cõi trần ai
                                     nhục nhằn

Mời em nhắp chút phù vân

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Trên thực đơn

Jeffrey Archer

Trên thực đơn

Arthur Hapgood được giải ngũ ngày mồng 3 tháng mười một năm 1946. Sau một tháng, anh quay trở lại chỗ làm cũ ở xưởng nhà máy Triumph, ngoại ô thị trấn Coventry. Năm năm đóng quân ở Sherwood Foresters - bốn năm trong quãng thời gian đó ở vị trí là sĩ quan hậu cần tiểu đoàn được phái tới một trung đoàn thiết giáp - chỉ nhấn mạnh cái số mệnh có vẻ phù hợp của Arthur sau chiến tranh. Mặc dù anh đã nuôi hy vọng tìm được công việc có nhiều đãi ngộ hơn sau khi chiến tranh kết thúc. Tuy vậy, sau khi trở về nước Anh, người lính nhanh chóng khám phá ra là ở một “mảnh đất nuôi dưỡng biết bao bậc anh hùng”, công ăn việc làm kiếm được cũng không dễ dàng gì, và mặc dù không muốn quay trở lại với công việc mà anh đã làm được năm năm trước khi người ta tuyên bố chiến tranh - công việc lắp ráp bánh xe vào xe hơi - sau bốn tuần lễ nhận trợ cấp thất nghiệp, anh đã miễn cưỡng tìm gặp ông đốc công cũ của mình ở công ty Triumph.

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Ignatius “quét sạch sẽ” - Jeffrey Archer

Jeffrey Archer

Ignatius “quét sạch sẽ”

Chẳng mấy ai quan tâm lắm khi Ignatius Agarbi được bổ nhiệm là Bộ trưởng Tài chính của Nigeria. Những người hay chế giễu thì cho rằng xét đến cùng thì ông ta là người thứ mười bảy nắm giữ cương vị này trong quãng thời gian mười bảy năm qua. 
Trong bài phát biểu đầu tiên về các chính sách lớn đọc trước Quốc hội, ông ta hứa sẽ chặn đứng nạn hối lộ và tham nhũng trong đời sống xã hội và cảnh báo với các nghị viên rằng không một người nào hiện đang nắm giữ trọng trách trong các cơ quan nhà nước có thể cảm thấy an toàn trừ khi anh ta sống một cuộc sống thanh liêm chính trực. Ông ta kết thúc bài phát biểu ra mắt bằng câu: “Tôi dự định quét sạch sẽ chuồng ngựa nặng mùi Nigeria”.

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

Sau khi... - Guy de Maupasant

Guy de Maupasant

Sau khi...

Lê Ngọc Anh dịch

- Các cháu thân yêu, -  bà bá tước nói, - phải đi ngủ thôi.
Ba đứa trẻ, trai và gái, đứng lên và tới ôm hôn bà mình.
Rồi chúng đến chào tạm biệt ông linh mục, người ăn tối ở lâu đài mọi ngày thứ năm trong tuần.
Tu viện trưởng Mauduit đang quỳ gối, luồn cánh tay dài bận đồ đen ra sau gáy bọn trẻ và kéo đầu chúng lại gần bằng một động tác ân cần, ông đặt lên trán chúng một nụ hôn dài dịu dàng.
Rồi ông đặt lại chúng trên sàn, và lũ trẻ đi ra, con trai đi trước, con gái theo sau.
- Cha yêu trẻ con, thưa cha, - bà bá tước nói.

Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Tà dương cuối trời - Thơ Thanh Nam


Tà dương cuối trời 

Chín năm đón Tết quê người
Vẫn ta ở tạm, vẫn đời ghé qua
Chín năm thương tuổi thêm già
Cành Xuân đã ngã qua bờ Thu Đông
Thấy mình như có như không
Xót xa cơm áo, bềnh bồng thê nhi
Đấu trường bốn mặt hôn mê

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2013

Say nắng - I. Bunin


Say nắng là sự trỗi dậy bất ngờ của tình yêu thực sự sau cái phút đam mê thường tình. Mọi diễn biến tâm lý từ phút đầu khi chàng và nàng từ phòng ăn bước ra trên boong tàu nóng nực đến cái phút cuối cùng khi chàng còn trơ lại một mình trên con tàu giữa sóng nước dòng Vonga vào đêm - đều chân xác chi ly đến nỗi Iu.Bônđarep,- nhà tiểu thuyết lớn bậc nhất của văn học Liên Xô -, đã phải bàng hoàng xác nhận đó là một trong vài ba truyện ngắn hay nhất của văn học thế giới xưa nay.
----------------

Sau bữa chiều, từ cái phòng ăn sáng ánh đèn và nóng nực nọ, họ bước lên boong tàu và dừng lại bên hàng lan can. Nàng nhắm mắt lại, đưa hai bàn tay lên má, lòng bàn tay để lộ ra ngoài, rồi cười không kiểu cách rất đáng yêu - từ người đàn bà nhỏ nhắn ấy toát ra một cái gì thật đáng say mê. Nàng nói:

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013

Người gác đèn biển - Henryk Sienkievich (Ba Lan)


Truyện ngắn này viết dựa theo một chuyện có thật mà J.Horain đã kể trong một bức thư gửi từ Mỹ về.

1
Một lần xảy ra chuyện người gác đèn biển ở Axpionan - một nơi không xa Panama - bị mất tích. Chuyện đó xảy ra trong cơn bão nên người ta cho rằng kẻ xấu số kia đã bị sóng cuốn đi khi lần ra mép nước của đảo đá đặt tháp đèn. Điều đó càng có vẻ có lý, vì ngày hôm sau người ta không thấy chiếc xuồng con mà ông ta vẫn thường xuyên buộc ở kẽm đá. Cần phải tìm ngay người thay thế chân gác đèn bị khuyết, bởi ngọn đèn biển này có ý nghĩa không nhỏ đối với giao thông trong vùng, cũng như đối với tàu bè chạy từ New York đến Panama. Vịnh Muỗi vốn lắm doi cát và bãi cạn, tìm luồng lạch ban ngày còn khó, huống hồ ban đêm, nhất là giữa những lớp mù thường bao phủ vùng biển nhiệt đới bị mặt trời liên tục hun nóng nơi đây. Khi ấy đối với số đông tàu bè, ngọn đèn biển trở thành người chỉ đường duy nhất.

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

Chiếu hết - Jeffrey Archer

Khi cô ta bước vào phòng, tất cả mọi con mắt đều hướng về phía cô.
Khi chiêm ngưỡng một cô gái, một số đàn ông bắt đầu từ khuôn mặt và dịch dần xuống phía dưới. Tôi bắt đầu từ gót chân và đi lên.
Cô gái đi giày nhung cao gót, mặc một bộ váy áo đen bó sát, dừng lại khá cao trên đầu gối, để lộ đôi chân thon dài cực kỳ hoàn hảo. Khi đôi mắt tôi tiếp tục cuộc hành trình hướng lên trên, chúng dừng lại để ghi nhận chiếc eo thon thả và thân hình mảnh mai như một vận động viên của cô. Thế nhưng chính khuôn mặt trái xoan lại có sức thu hút mạnh mẽ nhất, cặp môi hơi bĩu ra hờn dỗi, và đôi mắt trong xanh lớn nhất mà tôi từng thấy, được một vòng cung những sợi lông mày rậm, ngắn đen nhánh che phủ, và nó thực sự đang chiếu rọi ánh sáng huy hoàng, rực rỡ. Sự xuất hiện của cô còn đặc biệt hơn trong khung cảnh mà cô đã lựa chọn. Các mái đầu quay tới quay lui tại một buổi tiếp tân ngoại giao, hay tại một bữa tiệc rượu cốc tai, thậm chí tại một buổi khiêu vũ gây quỹ từ thiện thì là thường, thế nhưng tại một giải thi đấu cờ vua thì...

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Đại Tá Ễnh ương - Jeffrey Archer

Anh Quốc có một tòa giáo đường không bao giờ thấy cần phải mở một cuộc vận động lạc quyên trên qui mô toàn quốc.
* * *
Khi ông Đại tá thức giấc, ông thấy mình bị trói vào một chiếc cọc nơi cuộc phục kích đã xảy ra. Ông có cảm giác tê dại ở một chân. Điều cuối cùng ông có thể nhớ lại là chiếc lưỡi lê cắm phập vào bắp đùi mình. Tất tật những điều ông biết giờ đây là những con kiến bò lên ống chân trong một cuộc hành quân vô tận tiến về vết thương.
Thà cứ bị bất tỉnh lại tốt hơn, ông nghĩ.

Thứ Tư, 27 tháng 2, 2013

Những nhầm lẫn khôi hài - Henryk Sienkiewicz


Lê Bá Thự dịch

Cách đây chừng năm sáu năm gì đó, tại một địa điểm thuộc địa hạt Maripoza người ta phát hiện ra mỏ dầu. Những món lợi nhuận kếch xù mà các mỏ dầu ở Nevada và các bang khác đem lại đã khiến mấy vị chủ thầu chung tay lập ngay một công ty liên doanh để khai thác mỏ mới phát hiện này. Người ta tuôn tới đây đủ loại thiết bị: máy bơm, cần trục, thang leo, thùng to, thùng nhỏ, máy khoan và cả nồi hơi; người ta dựng nhà cho thợ thuyền, đặt cho địa điểm này cái tên “Struck Oil”, và chẳng bao lâu, tại vùng đất vốn khỉ ho cò gáy, không một bóng người này, nơi cách đây một năm duy chỉ có những chú chó sói đồng cỏ cư ngụ, đã mọc lên một ấp trại với vài chục ngôi nhà có vài trăm dân thợ ở.

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Phát súng - Puskin


Chúng tôi đọ súng
Baratưnxki (1)

Tôi thề sẽ bắn hắn theo đúng luật lệ quyết đấu
(một phát súng của tôi đang dành cho hắn).
Một buổi chiều tối ở doanh trại lộ thiên (2)

1
Chúng tôi đóng quân ở thị trấn X. Sinh hoạt của một sỹ quan trong quân đội thì chẳng còn ai lạ gì nữa. Buổi sáng thao diễn, tập ngựa; trưa ăn ở nhà trung đoàn trưởng hay ở quán rượu của một người Do Thái; chiều tối uống rượu và đánh bài. Ở X. không có một nhà nào mở rộng cửa, chẳng có một cô gái nào đáng để ý. Chúng tôi tụ tập ở nhà nhau, hết nhà này lại sang nhà khác; nơi đây, ngoài những bộ quân phục ra, không còn thấy gì khác nữa.

Áo Trắng Má Hồng - Nguyễn Duy


Thướt tha áo trắng nói cười
Để ta thương nhớ một thời áo nâu
Tóc hoe hoe cháy trên đầu
Ta cùng bạn gái cưỡi trâu học bài

Áo trắng là áo trắng ai
Buồn phơ phất buổi ban mai đến trường
Long lanh ngọn cỏ giọt sương

Món hời - Jeffrey Archer


Ông bà Christopher và Margaret Roberts luôn đi nghỉ hè rất xa nước Anh trong chừng mực họ có thể trang trải. Tuy nhiên, do ông Christopher là thầy giáo môn Văn học cổ Hi - La tại trường St. Cuthbert’s, một trường tiểu học nhỏ ở mạn phía Bắc của Yeovil, và bà Margaret là quản lý của ngôi trường đó, nên sự trải nghiệm của họ về bốn trong số năm châu lục chủ yếu gói gọn trong những tạp chí số ra hàng tháng như Tạp chí địa lý Quốc gia và Thời báo.
Kỳ nghỉ của gia đình Roberts thường vào tháng tám hàng năm, và nó quan trọng đến mức không thể thay đổi. Họ dành mười một tháng trong năm để dành dụm tiền, lập kế hoạch, và chuẩn bị cho sự chi tiêu xa xỉ đó. Quãng thời gian mười một tháng sau đó được dành để truyền đạt lại những khám phá của họ cho lũ “con cái”. Vợ chồng Roberts không có con, và họ coi tất cả các em học sinh trường St. Cuthberth’s như là các “con”.

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2013

Danh dự giữa những tên Đại Bịp - Jeffrey Archer


Lần đầu tiên tôi gặp Sefton Hamilton là vào dịp cuối tháng tám năm ngoái, lúc đó vợ chồng tôi đang ăn tối với vợ chồng anh Henry và chị Suzanne Kennedy tại ngôi nhà của anh chị trên đường Quảng trường Warwick.
Hamilton là một trong số những người kém may mắn, được thừa hưởng vô số của cải, nhưng chỉ có thế. Anh ta nhanh chóng thuyết phục chúng tôi rằng anh ta có ít thời gian để đọc sách và không có thời gian để đi nhà hát, hay xem nhạc kịch. Tuy nhiên, điều đó không hề gây cản trở cho anh ta có nhiều những ý kiến bàn luận về mọi chủ đề, từ Shaw đến Pavarotti, từ Gorbachev cho tới Picasso. Chẳng hạn, anh ta luôn cho rằng những người thất nghiệp chẳng có điều gì mà phải phàn nàn bởi vì khoản trợ cấp của họ chỉ thấp hơn chút ít so với số tiền mà anh ta đang trả cho những người lao động trong trang trại của mình. Hamilton khẳng định với chúng tôi rằng họ chỉ tiêu nó vào bingo (một loại cờ bạc) và nhậu nhẹt mà thôi.

Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Blog già hú mới

Mình xây nhà bên Blogspot từ ngày đầu, đồng thời với Y!Blog. Gần đây Yahoo VN dở chứng, xóa blog, mình đã định cư hẳn bên này, nhưng bạn bè nhiều người ở lại Y blog và Zing blog. Zing thì láo nháo quá, không hợp với mình. Thôi đành xây lại ngôi nhà bên Yahoo HK đế lấy chỗ liên lạc với bạn bè cũ vậy. Có điều chuyển lại vài trăm entry chắc là mất thời gian không ít, mà không biết có giữ được còm của các bạn ko? Bạn bè ai muốn gặp lại mình ở nơi chốn cũ thì đây là số nhà mới: 

http://blog.yahoo.com/nguoixuthanh

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Lông Tơ - Selma Lagerlöf

1
Tôi tưởng như đang thấy họ lên đường. Tôi thấy rất rõ cái mũ có lò xo của chàng, với vành rộng bỏ ngược lên, kiểu mũ người ta vẫn đội vào quãng năm 1840. Tôi thấy cái áo gilê màu sáng, cái khăn che ngực của chàng. Tôi cũng thấy khuôn mặt đẹp của chàng cạo nhẵn nhụi, với hàng ria ngắn, cái áo cổ cao thẳng đứng, vẻ chững chạc và duyên dáng đúng mực trong mọi cử chỉ của chàng. Chàng ngồi phía bên phải xe. Chàng vừa nắm lấy dây cương; và cạnh chàng là người đàn bà bé nhỏ. Cầu Chúa ban phúc cho nàng: Nàng thì tôi còn nhìn thấy rõ hơn nữa. Trước mắt tôi là một khuôn mặt thanh tú đóng khung trong cái mũ có dải buộc xuống dưới cằm, mái tóc màu nâu sẫm và tấm khăn sau lụa rộng thêu hoa.

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

Mẫu đồng hồ

Tôi lang thang lên mạng, kiếm được vài mẫu đồng hồ & lịch rất đẹp trên các trang web và blog bạn. Tôi đưa lên để bạn nào thích thì lấy về trang trí cho blog mình. Vì phải post cả mẫu nên tôi không thể đăng ở trang này. Ai cần xin theo đường link dưới đây:

http://nguoixuthanh1.blogspot.com/2013/01/vai-mau-ong-ho-cho-blog.html

Chủ Nhật, 20 tháng 1, 2013

Chủ nhật 20/1

- Đêm qua đọc lại “Bốn lần sinh nhật” của Stawinski. Quyển này chưa bao giờ mình đọc được một mạch. Bi kịch cá nhân trong bi kịch của dân tộc. Những phận đời tan nát trong cơn binh lửa đổ xuống đầu đất nước. Nhưng Iudek vẫn còn may mắn lắm, anh vẫn còn hạnh phúc khi có được 1 tổ quốc để bảo vệ, 1 lý tưởng để sống và để chết vì nó. Còn cái đất nước mình đang sống đây, liệu có thể khiến mình chết cho nó?  
- Sáng nay đưa Đốm đi ăn sáng và mua sách. 
...

Thứ Tư, 16 tháng 1, 2013

Rượu ơi!

Hôm 04/01 uống rượu với hai ông bạn & ông cháu. Bốn ông mới chơi hết 1 chai 0,75 VodkaDenmark. Từ hôm ấy đến nay mình chưa uống, dù chỉ một hớp. Người đời cứ nghĩ (và nói) rằng mình nghiện rượu. Hừ, nghiện thì không có không được, nay mình không uống nữa xem có chết bố con thằng Tầu nào không?
Rượu, cũng như thuốc lá, người ta sử dụng chúng như một thói quen. Khi ta buồn, khi suy nghĩ, khi bức xúc, khi giận dữ, khi vui, khi đắc ý… thì tìm đến rượu như một phương tiện để giải tỏa và có lúc là công cụ giúp vui. Vậy thôi, đâu có chuyện nghiện ngập gì ở đây.

Hai cha con - Truyện ngắn Pháp.


Pierrot biệt hiệu “Thộn” ngồi tù lần này là lần thứ tư kể từ khi ra chào đời. Cũng như ba lần trước, lần này bản án lại xác nhận biệt hiệu của gã rất hợp với con người gã: gã thộn tới mức liên tiếp nhiều lần định vượt ngục bằng những thủ đoạn không giống ai sau khi giở trò chôm chỉa cũng chẳng giống ai. Như lần mới đây chẳng hạn: gã lẻn vào ngôi nhà vắng chủ, cầm dao định... nậy két sắt của người ta. Hì hục mãi không bật được cửa, gã ném chiếc két xuống thang gác, tưởng sẽ làm nó vỡ tung. Thấy nó vẫn gan lỳ, gã ôm lên ném qua cửa sổ. Két vẫn trơ trơ. Tức điên lên, Pierrot chôm luôn một chiếc xe tải nhẹ chở chiếc két sắt ma quái về nhà gã. Trong nhà có sẵn đồ nghề: xà beng, búa tạ và nhiều thứ khác... nên sau một hồi loay hoay toát mồ hôi hột, Pierrot buộc được chiếc két ngoan cố phải phơi bày hết kho tàng trong lòng nó: vừa đúng 25 frans.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Đêm mưa thiếu rượu nhớ Lý Hạ - Vũ Hữu Định


Lý Hạ xưa say bằng huyễn mộng
Ta nay say bằng rượu pha cồn
Cảm đau thân thế người trong sử
Rượu đắng cay mà sao thấy ngon

Lý Hạ yêu người mà hóa quỷ
Ta yêu người nên nghèo rớt mồng tơi
Đêm mưa thiếu rượu thương người cũ

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013

Đà giang - Vũ Hoàng Chương



Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ
Trăng thượng tuần cao sáng ngập bờ
Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ

Có lẽ ngàn xưa là đáy sông
Đêm đêm giọt lệ gái xa chồng
Đè theo đôi tiếng tỳ hư ảo

Thứ Năm, 3 tháng 1, 2013

Truyện Loài Vật - Câu chuyện về một chó thỏ đuôi bông


Ernest Thompson Seton

Dịch giả: Lê Thùy Dương

Rách tai, hay Rách, là tên một chú thỏ non đuôi bông. Sở dĩ chú có cái tên này là vì một bên tai chú bị rách, hậu quả cuộc phiêu lưu đầu tiên của chú. Chú sống cùng với mẹ trong đầm lầy của ông Âuliphân, nơi mà tôi đã làm quen với hai mẹ con chú và được biết về cuộc sống cũng như lối ăn ở của hai mẹ con. Có lẽ khi đọc truyện này bạn sẽ cho rằng tôi đã biến những con vật thành những nhân vật giống người quá mức. Song nhưng ai sống gần chúng và đã nghiên cứu cách cư xử và suy nghĩ của chúng sẽ không nghĩ như vậy. Tất nhiên là thỏ không biết nói như chúng ta, song chúng có một hệ thống âm thanh, ký hiệu, khứu giác và động tác mà nhờ đó chúng hiểu nhau. Trong truyện này tôi dịch từ ngôn ngữ loài thỏ sang tiếng Anh và tôi không thêm bớt gì vào những điều chúng nói.

Truyện Loài Vật - Ngỗng trời ở Canada


Ernest Thompson Seton

Dịch giả: Lê Thùy Dương

Có một năm tôi sống ở một vùng phía bắc Canada gần hồ nước trong xanh, xung quanh đầy những cây cối xanh tươi. Ở Canada. vùng ấy cũng là nơi cư trú của loài ngỗng trời, và tôi luôn mong để được nghe tiếng kêu của chúng. Khi ngỗng trời bay về người ta biết rằng chẳng bao lâu nữa tuyết sẽ tan và các loài muông thú sẽ trở lại những quả đồi nâu, mùa đông đã qua đi và những ngày ấm áp đầy ánh nắng sẽ trở lại nơi đây. Khi bay trên bầu trời tiếng kêu của đàn ngỗng mang theo bản thông điệp ấy đến cho tổ tiên của chúng ta.

Truyện Loài Vật - Chink


Ernest Thompson Seton
  
Dịch giả: Lê Thùy Dương

Chink là một con cún đã to lớn đến mức tự coi mình là một con chó trưởng thành nổi tiếng, thực ra nó cũng nổi tiếng rồi, chỉ có điều là không nổi tiếng như nó tưởng tượng ra mà thôi. Nó không dữ dằn mà thậm chí cũng không oai phong lẫm liệt, nó cũng chẳng nổi bật về sức khỏe hay về tài chạy nhanh, nhưng là một trong những con cún ngốc nghếch, tốt bụng và sôi nổi nhất đã có lúc nhai nát giày của chủ. Chủ nó là Bill Aubrey, một người dân miền núi thời đó sống ở chân núi Garnet, trong Vườn quốc gia Yellowstone. Đó là một nơi rất yên tĩnh, cách xa những con đường ưa thích nhất của những nhà du lịch. Và cái nơi mà Bill đựng túp lều của lão cũng lại chính là một trong những vùng có người ở hẻo lánh nhất, nếu như ta không kể đến chú cún Chink lông xù lúc nào cũng luôn chân luôn tay.

Truyện Loài Vật - Chúa tể núi Tallac


Ernest Thompson Seton

Dịch giả: Lê Thùy Dương

1

Núi Tallac đứng sừng sững vượt lên trên các đỉnh khác của rặng Sierra. Ngọn núi này cao hơn mặt biển mười ngàn yard. Từ đỉnh núi nhìn về phía bắc ta có thể thấy một cái hồ lớn nước xanh thẳm kỳ diệu. Khắp xung quanh cảnh vật đầy màu sắc đẹp đẽ: những cây thông, những dòng suối, những ngọn đồi. Song cặp mắt xám sắc sảo của Lan Kellyan chẳng để ý đến những màu sắc đẹp đẽ ấy của đồi núi và hồ nước. Anh là một thợ săn. Bộ quần áo da, bộ mặt nâu xạm, thân hình cường tráng và đôi mắt xám trong suốt của anh cho ta thấy ngay sự thực ấy. Cặp mắt thợ săn của anh tìm kiếm và phát hiện ra một vệt chân thú và anh lần theo vệt đi ấy trên mặt đất. Anh biết rằng một gấu mẹ rất to và hai gấu con đang quanh quẩn gần đâu đây bởi vì dấu chân của chúng in trên cỏ vẫn còn mới. Con ngựa của Lan cũng biết là đã đến gần một gia đình nhà gấu bởi vì mũi nó cứ hít hít và nó bước đi một cách nhút nhát.