Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012

Những cây cầu ở quận Madison - 8. Tái bút


Robert James Waller

Tái bút

Con ó đêm ở Tacoma

Trong thời gian tôi viết về câu chuyện của Robert Kincaid và Francesca Johnson, tôi càng muốn tìm hiểu chi tiết về cuộc đời của Kincaid thì tôi càng ít biết về ông và cuộc sống của ông.
Chỉ một vài tuần trước khi cuốn sách này được in ra, tôi đáp máy bay đi Seattle. Một lần nữa, tôi cố gắng tìm những thông tin bổ túc về Robert Kincaid.
Ý tưởng này chợt đến với tôi khi tôi nghĩ rằng là một người yêu nhạc và bản thân ông ta cũng là một người chơi ghi-ta, Robert Kincaid hẳn phải quen biết với một ai đó trong giới âm nhạc và nghệ sĩ ở Puget Soud. Người có trách nhiệm ở Tiểu ban Nghệ thuật và Sân khấu của tờ Seattle Times đã giúp tôi nhiều. Ông ta chưa hề nghe nói về Robert Kincaid, nhưng ông để cho tôi tham khảo tất cả danh mục của tờ báo từ năm 1975 đến 1982, giai đoạn mà tôi quan tâm.

Những cây cầu ở quận Madison - 7. Lá thư của Francesca


Robert James Waller

7. Lá thư của Francesca


Francesca chết vào tháng giêng năm 1989, khi đó bà 69 tuổi. Robert Kincaid nếu còn sống thì năm đó đã 75. Người ta chẩn đoán cái chết của bà là “tự nhiên”. Người bác sĩ bảo Michael và Carolyn: “Đơn giản là bà chỉ ra đi. Tuy vậy chúng tôi hơi bối rối một chút. Chúng tôi không tìm thấy nguyên nhân rõ ràng của cái chết này. Một người hàng xóm thấy bà nằm gục xuống trên chiếc bàn phòng bếp”.

Những cây cầu ở quận Madison - 6. Tro tàn

Robert James Waller

6. Tro tàn


Đêm đã phủ xuống quận Madison. Sinh nhật lần thứ 67, năm 1987. Từ hai tiếng đồng hồ, Francesca vẫn nằm dài trên giường, bà vẫn có thể thấy, sờ hay cảm thấy tất cả những gì bà trải qua hai mươi hai năm về trước.

Những cây cầu ở quận Madison - 5. Con đường và người lữ hành

Robert James Waller

5. Con đường và người lữ hành


Những ngày sau đó, Robert Kincaid bỏ luôn chuyện đi chụp ảnh. Phần Francesca, bà cũng bỏ luôn công việc trang trại, ngoại trừ những công việc tối thiểu bà phải làm. Họ dùng tất cả thời gian để ở bên nhau, nói chuyện và làm tình. Hai lần, theo yêu cầu của Francesca, ông dạo đàn ghi-ta và hát cho bà nghe. Giọng hát khá hơn mức trung bình, nhưng ông hơi bối rối bảo rằng bà là thính giả đầu tiên của ông trong đời. Nghe thế bà bật cười và ôm hôn ông rồi cố nén tình cảm lại, bà lắng nghe ông hát những bài hát của dân đánh cá voi và về gió trong sa mạc.

Những cây cầu ở quận Madison - 4. Một không gian nơi đó người ta lại nhảy múa

Robert James Waller

4. Một không gian nơi đó người ta lại nhảy múa

 

Tối thứ ba, tháng Tám 1965, Robert Kincaid đăm đăm nhìn Francesca Johnson. Bà nhìn trả lại ông. Cách nhau ba mét qua chiếc bàn mi-ca trong nhà bếp, họ đã ràng buộc với nhau một cách thâm sâu toàn vẹn và mãi mãi. Điện thoại reo. Francesca vẫn nhìn ông và không hề cử động khi nghe tiếng chuông thứ nhất rồi thứ hai. Cả một khoảng im lặng dài rồi trước khi tiếng chuông thứ ba reo, mắt ông rời bà nhìn về phía mấy chiếc ba lô đựng máy ảnh.

Những cây cầu ở quận Madison - 3. Những chiều xưa tiếng nhạc xa vời

Robert James Waller

3. Những chiều xưa tiếng nhạc xa vời

 

“Bây giờ thì sao nhỉ?”. Francesca thầm nghĩ, khi bữa ăn chấm dứt.
Ông đề nghị:
- Chúng ta ra ngoài đồng đi dạo một lát nhé? Ngoài đó chắc trời mát hơn.
Khi bà đồng ý, ông mở ba lô lấy chiếc máy ảnh ra khoác quai vào vai.

Những cây cầu ở quận Madison - 2. Francesca


Robert James Waller

2. Francesca

 

Sinh nhật của Francesca rơi đúng vào thời điểm đẹp nhất của mùa thu. Những giọt mưa lạnh đập vào vách tường căn nhà gỗ của bà ở vùng quê phía Nam bang Iowa. Bà ngắm nhìn mưa và những ngọn đồi bao quanh sông Middle, nghĩ đến Richard. Ông đã chết cũng vào một ngày thu như thế này, tám năm về trước, bởi một căn bệnh mà bà không muốn nhắc đến tên. Giờ đây bà chỉ nghĩ đến ông, đến tính tình luôn bình dị tử tế của ông, đến cả cuộc sống nặng nhọc mà ông đã trao cho bà…

Những cây cầu ở quận Madison - 1. Robert Kincaid

Robert James Waller

1. Robert Kincaid

 


Ngày 8 tháng 8 năm 1965, buổi sáng. Robert Kincaid đóng cửa căn hộ hai phòng nhỏ xíu thuộc tầng ba trong một toà nhà hình dạng khá kỳ cục ở Bellingham, tiểu bang Washington. Ông bước xuống cầu thang gỗ, tay xách vali, còn chiếc ba lô đeo lưng chứa đầy dụng cụ nhiếp ảnh, qua hành lang ra phía cửa dẫn đến chiếc xe tải cỡ nhỏ cũ kỹ của mình hiệu Chevrolet, đang đậu ở chỗ dành riêng cho người sống trong chung cư.

Thứ Bảy, 25 tháng 2, 2012

Cái thùng con - Guy de Maupassant


Chủ quán Sicô, bán hàng ăn ở Êprơvin, dừng xe trước trại của mụ Magloarơ. Đó là  một gã cao lớn trạc bốn mươi tuổi, đỏ đắn, bụng phệ, nghe đồn là ranh ma.
Gã buộc ngựa vào cọc hàng rào, rồi vào trong sân. Gã có chút tài sản giáp với mảnh đất của bà lão, mà gã thèm muốn từ lâu. Có đến hai chục lần gã dạm mua, nhưng mụ Magloarơ khăng khăng từ chối. Mụ bảo:
- Tôi sinh ra ở đấy, tôi chết ở đấy.
Gã thấy mụ đang gọt khoai trước cửa nhà. Bảy mươi tuổi, mụ khô đét, răn reo, lưng còng, nhưng làm lụng dẻo dai như con gái. Sicô thân thiện vỗ vào lưng mụ, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh mụ.

Đêm đông chí uống rượu


Đêm đông chí uống rượu với bác Lâm và bác Khánh nói chuyện về những cuộc chia tay thời loạn

Lưu Quang Vũ

Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở

Một gương mặt mốc


Tôi sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, vấp ngã tại Hải Phòng và đứng dậy cũng tại Hải Phòng. Ông tôi, bố tôi có thời gian không ngắn đảm nhiệm chức vụ không quá bé tại Hải Phòng nên tôi có điều kiện để biết những kẻ được coi là “tai to mặt lớn” ở đất Hải Phòng. Vì đã có dịp nhìn gần những bộ mặt ấy, nên trong một entry tôi có nói (hơi hỗn) là tôi coi quan chức như chó lợn, hôm nay tôi xin mở ngoặc, quan chức Hải Phòng, và sau thời của ông Đoàn Duy Thành, đóng ngoặc. Tôi kém khả năng viết, nói, nên nhiều điều ghim trong dạ mà không nói ra được. Hôm nay gặp được một bài trên blog culangcat phỉ nhổ vào mặt một cựu quan chức Hải Phòng. Mạn phép tác giả, tôi xin về đăng lên đây như một sự chia sẻ. Tôi xin lưu ý, ông Thức chỉ là một trong rất nhiều bộ mặt mốc ở cái đất Hải Phòng nhiều gian khó.
-------------------

“Cụ Thức chủ tịch CLB Bạch Đằng, cụ bẩn lắm, bẩn lắm, bẩn lắm

Thế là rõ, trên mạng và tờ VTC đưa rõ clip lão thành cách mạng đề nghị BCT cách chức Bí thư thành ủy Hải Phòng, Nguyễn văn Thành.
Trên mạng cũng lan truyền mạnh mẽ clip trích cuộc nói chuyện của ông Thành với các bô lão ở CLB Bạch Đằng.

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Sáng trăng - Guy de Maupassant


Lê Hồng Sâm dịch

Ông ta rất hợp với cái tên trận mạc của mình, tu viện trưởng Marignan (1). Đó là một tu sỹ gầy gò, cao lớn cuồng tín, tâm hồn luôn luôn bồng bột phấn khích, nhưng ngay thẳng. Mọi tín ngưỡng của ông đều cố định, không hề dao động. Ông thành thực tin rằng mình hiểu biết Đức Chúa Trời của mình, thấu suốt được dự định, ý chí, dụng tâm của Chúa.
Trong khi dạo những bước dài dọc lối đi của tòa tu viện nhỏ xứ quê, một câu hỏi thỉnh thoảng lại nẩy ra trong óc ông:  “Vì sao Chúa tạo nên điều này?”. Và ông khăng khăng tìm tòi, tự đặt mình vào địa vị Chúa trong tư duy, và hầu như bao giờ ông cũng tìm ra được. Ông đâu phải người thì thầm trong niềm nhiệt thành khiêm nhường sùng tín: “Lạy Chúa, ý Chúa không sao thấu nổi”. Ông tự nhủ:  “Ta là tôi con Chúa, ta phải hiểu biết lý do hành động của Chúa, nhược bằng không hiểu biết thì đoán định”.

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012

Tôi & Em - Thơ Đặng Vương Hưng


Tôi chưa trọn kiếp đàn ông
Còn em là gái chưa chồng.
                                         Mới yêu...
Tôi giờ như đã sang chiều
Còn em vừa sáng
                           rất nhiều mộng mơ
Tôi thì như sóng xô bờ
Em như bãi cát
                        đợi chờ triều lên...
Bao giờ mất ngủ một đêm
Ta mang trăng đổi...
                             chăn mềm
                                              tặng nhau...

                       (Đặng Vương Hưng)

Tứ tuyệt tương tư – Xuân Diệu


1
Lâu quá em ơi, mấy tháng rồi
Bao nhiêu thương nhớ thế em ơi!
Sáng trông mặt đất thương xanh núi
Chiều vọng chân mây nhớ tím trời.

2
Bỗng dưng trời đất nhớ người yêu
Cây vắng chim bay, nắng vắng chiều
Nước chảy lơ thơ, bờ líu díu
Mây chừng ấy đó, gió bao nhiêu ?

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2012

Bố của Ximon - Guy de Maupassant


Lê Hồng Sâm dịch

Chuông báo trưa vừa dứt. Cửa trường mở, và bọn trẻ con chen lấn nhau ùa ra cho nhanh. Nhưng chúng không mau chóng tản mát về nhà ăn cơm trưa như mọi ngày, mà còn đứng lại, cách đó vài bước, tụ tập thành từng nhóm, thì thào to nhỏ.
Chẳng là sáng nay, Ximon, thằng con nhà chị Blăngsôt lần đầu đến lớp học.
Ở nhà, chúng đều đã từng nghe nói đến chị Blăngsôt; và mặc dù ngoài chốn công chúng, người ta vẫn niềm nở với chị nhưng riêng giữa các bà mẹ với nhau thì cách các bà đối đãi với chị có cái vẻ ái ngại hơi khinh miệt, điều này lan sang cả những đứa trẻ tuy chẳng hiểu vì sao.

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Nghĩ về lòng yêu nước - bài cũ đăng lại


Trong một entry (nhân đọc bài “Lòng yêu nước không là độc quyền của riêng ai” của ông nhà văn Chu Lai ) tôi có nói: lòng yêu nước, (cùng với cái giá phải trả cho lòng yêu nước), là độc quyền của người dân lao động, thấp cổ bé họng, cái tầng lớp chỉ có mỗi đặc quyền hy sinh từ sức lao động, tài sản đến tính mạng mỗi khi tổ quốc lâm nguy.
Lòng yêu nước, theo tôi, nó là tình cảm thứ phát, không phải là tình cảm tự nhiên như tình mẹ con, tình cha con… Mỗi người chỉ có thể có lòng yêu nước và cụ thể hóa, vật chất hóa tình cảm ấy khi tổ quốc với họ là một người mẹ hiền (dù có nghèo), chứ không phải là một người mẹ ghẻ hay tệ hơn là một mẹ... mìn.

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2012

17 tháng 2 năm 1979 - Máu đổ nơi biên giới Việt - Tàu


Ngày này 33 năm trước, bè lũ đê hèn phương bắc phát động cuộc chiến ăn cướp, phản phúc trên toàn tuyến biên giới của nước ta. Cuộc chiến xâm lược Việt Nam cuối cùng của lũ súc vật phương bắc ở thế kỷ 20. Hôm nay không thấy một bài báo, không nghe một mẩu tin trên  các phương tiện truyền thông nhà nước.

Ta đã thấy, đã nghe và đã nói.


Ta đã thấy, không giả mù được nữa!
Máu cha ông chảy suốt bốn nghìn năm
Màu đỏ ấy ướt nhoè từng trang sử
Đỏ núi Chi Lăng, đỏ sóng Bạch Đằng

Ta đã nghe, vì làm sao giả điếc!
Tiếng hùng ngâm sông Như Nguyệt hồn xiêu
Tiếng gươm khua Nhị Trưng, tiếng voi rống Nhụy Kiều
Tiếng roi sắt Phù Đổng vút qua mười thế kỷ

Ta đã nói, vì không câm được nữa!
Khi tiếng nấc An Tư ngẹn thắt họng ta rồi

Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

Giã từ một thú vui !


Mình có lẽ phải bỏ bài bạc, vợ dặn đón con, thế quái nào mà mải mê phỏm phiếc, quên béng đi mất. Chẹp, đến cái chuyện quan trọng nhất đời là đón “cách cách” mà còn quên được thì liệu còn chuyện chó nào để nhớ khi mình đã cầm quân bài, lá bạc. Bỏ thôi, con gái lớn rồi, chẳng hay ho gì khi ngày nào nó cũng phải thấy bố cùng các bác, các chú mải mê sát phạt lẫn nhau, bê tha, bệ rạc lắm.
Ừ, mà thế quái nào mà mình lại lắm thói hư tật xấu thế không biết, bài bạc, rượu, chè, cà phê, thuốc lá, nói tục, chửi bậy v.v cái gì cũng có. Mình nhớ rõ ràng: bố mẹ mình không dạy mình những thứ đó và cả mười mấy năm qua bốn cấp học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa tươi đẹp cũng không hề có lấy một tiết học những môn này. Vậy thì nó ở đâu ra nếu không phải là do ảnh hưởng từ bạn bè, chắc chắn thế.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2012

Tố của Hoàng ơi! - Vũ Hoàng Chương

Năm 12 tháng, ai không biết!
Đã tháng nào không tháng 6 chưa?
Tháng có 30 ngày để giết,
Ngày 12 vẫn sống như xưa.

Lịch treo giữa ngực kêu thành tiếng,

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2012

Gió thoảng qua cầu - Y Sa


Người tìm chi giữa cuộc đời?
Bao nhiêu năm tháng
                                  trả rồi lại mua.

Đành như được – đành như thua!
Được vui mấy bận
                              buồn thua mấy lần?

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012

Chuyện vui về rượu - sưu tầm trên mạng


Hai ông bạn nhậu say quắc cần câu, chật chưỡng lên xe về nhà. Dọc đường, có một ông xin đi nhờ, họ đồng ý. Đi một đoạn, ông khách đi nhờ thấy xe chạy quá nhanh, lo lắng nói với tay bợm ngồi cạnh tài xế:

Thơ nhại


Trong một entry trước, tôi có một nhận xét cá nhân rằng: trong các bài thơ tình nổi tiếng của VN thì bài thơ (một khổ thơ của bài) “Hai sắc hoa Ti Gôn” được các “nhại sỹ” chế nhiều nhất. Nguyên văn khổ thơ của thi sỹ T. T. K. H: