Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 6


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

VI

Chiếc xe chở đồ sơn đỏ từ từ chạy ngang qua thành phố. Với những khóa to tướng, với các cửa nhồi bông và cài then chặt chẽ, xe mang mỗi bên hông cùng một hàng chữ đen: Gôrốt huynh đệ, Buđapét, chuyên chở mọi loại. Xe không ngừng lại nữa. Từ một khuôn tròn khoét trên cao sát mái, thò ra một đầu người láo liên ngó thật kĩ lưỡng tứ phía, rồi chốc chốc lại cúi xuống chắc để báo hiệu điều gì.

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 5


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

V

Lúc đó Fanhan đang mắc ra phố để tìm mua nào kim cúc, nào giấy bìa, nào mực Tàu. Anh chỉ kiếm được có mỗi khoản giấy bìa, màu hồng, quan Quản nhà ta ưa thích để kẻ bảng. Lượt về, trời mưa, một trận mưa hâm hấp nóng. Fanhan cố giấu cuộn giấy cồng kềnh dưới nếp áo choàng ngắn, nhưng khốn nỗi cuộn giấy vừa dài vừa to, khi anh thấy nước mưa thấm vào mép giấy, và màu hồng bắt đầu hoen ố. Anh rảo bước. Tới ngã tư anh bắt buộc phải ngừng lại: đoàn xe thiết giáp khổng lồ đang quanh cua một cách khó khăn, người ta phải xoay đầu ngọn đại bác trước, rồi mới tới đuôi, để chạy về phía Tây Nam. Dân chúng điềm tĩnh đứng nhìn.

Thứ Năm, 12 tháng 9, 2019

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 4


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

IV

Lúc đó chỉ còn lại hai đám màu rộng lớn, một do dưa chuột có ngọn cao nghệu hình kim tự tháp tạo thành, và, một màu vàng cam, là đống trái mơ. Giữa chợ những cây đu của đám người hát dạo vẫn đứng sừng sững. Những cây đu vẫn còn đó, những nước sơn bên ngoài đã ngả màu, hoen ố, bẩn thỉu: màu xanh và đỏ chẳng còn chỗ nào tươi đậm. Nhìn những cây đu người ta bắt buộc phải liên tưởng đến những sườn tàu trơ trụi đang kiên nhẫn nằm trong ụ bến chờ được đem bán ve chai. Vài ba chiếc xuồng nhỏ, vẫn còn treo trên sườn tàu, thòng xuống bất động gần như cứng nhắc. Một làn khói đen bốc từ những xe lăn dùng làm nhà.

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 3


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

III

Bộ đội Đức thuở đó có vô vàn trung sĩ. Chỉ nguyên phù hiệu của họ cũng đủ kết thành sao cho sáng vằng vặc cả vòm trời của một vương quốc phi lí nào nơi âm phủ. Và trong số vô vàn trung sĩ ấy, một phần quan trọng mang họ Snaiđơ. Rồi trong số Snaiđơ ấy có khá nhiều người mang tên là Êlôi. Nhưng lúc chuyện này đang xảy ra chỉ có độc một trung sĩ mang tên họ Snaiđơ Êlôi trú đóng tại vùng Sdôcáchêli, một vùng quê hẻo lánh của nước Hung Gia Lợi. Đất Sdôcáchêli này là một thị trấn nhỏ bé, bán thừa lương địa, bán lâm tuyền. Lúc đó trời đang mùa hè.

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 2


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

II

Y nghe thấy một giọng nói “Brétsen - Brétsen, nhìn tôi đây” và y biết rằng đó là giọng của Klêvíts, ông y sĩ trưởng sư đoàn được phái tới chắc là để hỏi về việc hắn trở về, nhưng y nhất định không ngoảnh lại, không muốn nghe nói gì đến cái trung đoàn đó, và y không nhìn Klêvíts. Y cứ khăng khăng chú mục vào bức tranh treo ở hẳn về phía tay phải y, gần như trong bóng tối của góc tường: một đàn cừu, vẽ màu xám và màu lục ở giữa có một người chăn chiên quần áo lông xanh đang thổi sáo.

Người Ở Đâu Về (Wo warst du, Adam) - Chương 1


Người Ở Đâu Về
(Wo warst du, Adam)

Heinrich Theodor Böll
Nobel 1972

Người dịch: Lý Quốc Sinh.

Nhà xuất bản Nguồn Sáng, Sài Gòn - 1972

I      

Trước hết, đó là một khuôn mặt lớn, vàng vọt và bi đát, lướt qua trước mặt họ. Đó là bộ mặt của ông tướng. Ông tướng có vẻ mệt nhọc. Ông ta vội vàng mang ra trước mặt một ngàn người này cái đầu ông với quầng mắt thâm, tròng mắt vàng vì sốt rét, cái miệng nhẽo, cặp môi mỏng của những người đang hồi đen đủi. Khởi đầu từ gốc tay phải của đám quân tập họp đầy bụi bậm, ông ta lần lượt nhìn họ từng người, thẳng vào mắt họ, một cách buồn rầu; ông ta đổi hướng uể oải, không có vẻ gì hăng hái, và tất cả bọn họ đều ngầm chú ý tới một điểm: trên ngực ông thì đủ cả các huy chương, chẳng thiếu chiếc nào, lấp lánh ánh vàng, ánh bạc, nhưng nơi cổ ông không đeo gì cả, không có huy chương gì cả. Và tuy rằng họ đã biết là một tấm bội tinh ở nơi cổ một ông tướng chẳng có quan trọng mấy nỗi, họ cũng thấy hơi khó chịu là ông ta không có. Cái cổ nhà tướng vàng vọt và thiếu huy chương ấy làm họ liên tưởng tới những trận đánh thua, những cuộc rút lui không nổi, những lời nói nặng nề và chua chát mà các sĩ quan cao cấp trao đổi với nhau, những cuộc điện đàm bóng gió, những vụ thay đổi chỉ huy. Cái cổ ấy khiến họ liên tưởng tới một ông già mắt nhìn mệt mỏi và tuyệt vọng, lúc chiều tối, cởi áo khoác ra, ngồi ghé xuống giường với đôi cẳng gầy guộc và thân hình kiệt quệ vì cơn sốt, để uống một chút rượu mạnh. Bọn họ gồm có ba nghìn ba trăm ba mươi ba người để họ tới thanh tra; họ cùng có một cảm giác kì quặc lẫn lộn buồn, thương, lo, giận: giận khi nghĩ đến cuộc chiến tranh này đã kéo dài quá lâu, quá lâu đến nỗi cái cổ một ông tướng mà dám để trần không đeo huy chương thường lệ.

Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2019

Cơm Thầy Cơm Cô


Cơm Thầy Cơm Cô

Tác giả: Vũ Trọng Phụng

Nhà Xuất Bản Văn Học - 01-2018


Chương 1
Đêm Ấy, Tại Hàng Cơm

Tôi không cần nói rõ hàng cơm nào, ở phố nào làm gì. Các ngài chỉ cần biết rằng một hàng cơm như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là lập tức thấy buồn nôn buồn ọe. Nó là mùi cá mè, mùi thịt trâu, thịt lợn thiu, mùi lòng lợn, lòng bò, mùi me chua, mùi dưa khú... Thôi thì đủ một trăm nghìn thứ mùi khó chịu mà lạ nhất là nó không hề bận đến hai lỗ mũi của bà chủ luôn luôn nắm trong tay cái quạt nan, cởi trần trùng trục và thỉnh thoảng lại cao hứng vén quần lên đến bẹn mà gãi sồn sột, tự nhiên như đàn ông.

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Tự do

Tự do

Tác giả: Vũ Trọng Phụng


Buổi chiều hôm ấy, bà chủ vừa gãi đỏ cả hai bàn chân vừa kêu: “Rõ khổ lắm! Nhiều muỗi quá thế này này!”. Ông chủ lập tức gọi thằng xe lên.
- Mày bận những công việc gì mà ba bốn tháng nay mày để cái vườn hoa cứ rậm như cái rừng ấy thôi! Rõ đốn quá đi mất!

Thứ Năm, 1 tháng 8, 2019

Ăn mừng


Ăn mừng

Tác giả: Vũ Trọng Phụng


Bữa nay cụ Phán Uyên, đã được hiểu rõ cái gì là cái vinh quang, những đồ mừng quý giá, những tấm câu đối đỏ treo la liệt khắp tường, đã đủ an ủi về số tiền bỏ ra. Cái cảnh “ăn uống ầm ầm” hai hôm nay không khiến cụ sốt ruột nữa. Đọc những chữ chúc mừng rất văn chương bằng dạ đen trên nền đỏ, cụ mới khám phá ra rằng: chao ôi thì ra mình xưa nay vẫn có nhiều đức tính mà chính mình không biết, để mà sướng như một kẻ chết được lắm câu đối khóc có thể được thỏa cái vong hồn... Thật là linh đình, và vui vẻ. Thật là vinh dự cho tổ tiên.

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2019

Mua danh


Mua danh

Tác giả: Nam Cao

NXB Văn Học - 1986


Nhà Bịch được một sào trầu tốt. Cái tin ấy đồn đi. Dân làng kháo nhau rằng hắn có tiền. Mà có tiền là phải. Chỉ tính ra cũng biết. Trầu làng năm nay chết rất nhiều. Do trận bão vừa qua. Có những cái nát như tương; chẳng khác gì có người giật đổ xuống rồi lấy chân mà dận; người ta dỡ gióng trúc, cắt gốc đi, rồi trồng thế vào đấy vài trăm con rau diếp; gỡ được đồng nào hay đồng ấy. Có những cái khác được dựng lên; nhưng dựng lên thì cũng chết, bởi gió đã lay dữ quá, làm đứt rễ. Những cái còn sống sót không có lá: lá cũ bị vò tan; lá mới gặp vụ rét này không ra được; có ra được thì cũng chột.