Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Khoảng Trời Mênh Mông - Ch 21

Khoảng Trời Mênh Mông
(Hattie Big Sky)

Tác giả: Kirby Larson
Người dịch: Vũ Kim Dung
NXB Văn Hóa Sài Gòn - 2008

Chương 21

Tháng Mười năm 1918

THỜI BÁO ARLINGTON
Mục Chuyện Nhà Nông

Cơn Lốc Dịch Bệnh

Dịch cúm Tây Ban Nha không còn là tin đồn với người dân nơi đây. Phải thú thật rằng, cho đến tận bây giờ, sau khi cầu nguyện cho rất nhiều người mắc bệnh, tôi vẫn chỉ tiếp xúc sơ qua với nó. Suy cho cùng, tôi đều không quen những đồng bào bị bệnh ở Boston, San Francisco hay Kansas. Dù con số người mắc bệnh đã lên đến mức báo động, cá nhân tôi không mường tượng hết mức độ khốc liệt của nó. Nhưng khi nghe tin ông Ballagh, thợ làm bánh ở tiệm bánh và thực phẩm Hanson’s Cash Grocery & Bakery, bị cúm rồi qua đời, tôi nghe lồng ngực buốt nhói. Dường như nỗi bất hạnh của một người ta quen gây tác động mạnh hơn tin hàng triệu người lạ gặp hoàn cảnh gieo neo tương tự.

Từ Wolf Point về, Jim Gà Trống mang theo tin dữ:
- Cúm Tây Ban Nha. Ông Hanson cùng cả nhà đều lâm bệnh. Cả nhà Ebgard cũng thế. Tôi còn nghe nói ba ngày nay, bà Martin không rời Sarah nửa bước. Cô Leafie đang vất vả lùng kiếm cây ngải đắng pha trà thảo dược trị bệnh.
- Khiếp quá đi mất!
Vừa nhấp một ngụm, tôi đã vội nhổ đi. Cô đặt hũ thủy tinh lớn đựng đầy thứ nước trà đục ngầu trên bàn ăn nhà tôi:
- Thuốc đắng giã tật. Cô muốn cháu uống hết chỗ trà này, không chừa một giọt. Cô không biết gì nhiều về loại cúm này, nhưng trà ngải đắng chữa bách bệnh đấy cháu ạ.
Sau khi cùng ăn tối với tôi, cô lại mang trà đến cho chị Perilee. Sáng hôm sau, có hai người khách vui vẻ, mặt mũi sáng láng đến nhà tôi. Chase gọi lớn:
- Chị Hattie, đoán xem dượng và em sắp đi đâu đây?
Tôi đùa:
- Đến New York City à?
Chase bật cười, nhảy từ thùng xe xuống và đưa cho tôi cái bánh ngọt chị Perilee gửi. Cậu tiết lộ:
- Còn hơn thế. Dượng Karl định cho em đánh xe đến tận nhà Richey để lấy phụ tùng máy kéo. Đừng cho mẹ em biết chuyện này: Khi đến nơi, dượng và em định mua tủ đựng bát đĩa cho mẹ. Lần cuối lên thị trấn, dượng đã đặt tiền rồi. Mẹ sắp có tủ hẳn hoi để đựng đồ ăn bằng bạc và bát đĩa.
Sau khi tiễn hai cha con, tôi làm việc nhà rồi sang ăn tối với chị Perilee cùng mấy cô con gái. Hai chị em cùng ngồi may chăn ghép Ngỗng Bay có đục lỗ sẵn. Đó là một trong những chăn ghép đẹp nhất của hai chị em tôi. Chị Perilee và tôi dự định năm sau sẽ mang nó đến Hội chợ Hạt Dawson. Tôi dùng nốt đoạn chỉ cuối cùng:
- Mắt em mờ quá rồi. Chắc em nghỉ thôi. Mai em lại sang, chị em mình may nốt, chị nhé.
Chị Perilee ngáp:
- Chị cũng mệt bã người. Sau khi vui vẻ tiễn hai cha con, chị thấy người rã rời.
Tôi hôn trán Mattie, Fern và Lottie rồi về nhà. Sáng hôm sau, con Plug bướng bỉnh không chịu nghe lời. Bực quá, tôi lớn tiếng:
- Sao mày khó chịu thế hả?
Cuối cùng, Plug cũng chịu ăn hết khẩu phần. Tôi thả nó ra ngoài gặm cỏ. Mãi đến trưa, khi làm xong việc nhà, tôi mới sang chị Perilee. Gió thu lành lạnh lẩn quất trong không trung khiến tôi thoáng rùng mình. Nhớ những ngày hè qua, khi nóng tôi mong mỏi gió mát. Giờ mới có chút gió lạnh, tôi đã muốn ca thán rồi.
Vừa đi, tôi vừa sáng tác hoa văn cho tấm chăn ghép sắp tới. Sau khi nhận được thư Charlie cảm ơn về chăn ghép Cánh Quạt Của Charlie, tôi đã viết cho anh như sau:
Em muốn sáng tạo mẫu chăn mới. Một mẫu trước nay chưa ai có. Một mẫu đặc trưng của vùng đất Montana này”.
Tôi đã nhắm sẵn mảnh vải xanh nhạt ở cửa hàng ông Dye và định dùng nó làm nền trời. Tôi cũng tích trữ nhiều mảnh vải bông màu nâu làm đồng cỏ. Nên đặt tên bức tranh mới là gì bây giờ? Cảnh Hỗn Độn Ở Montana chăng? Tôi bất giác mỉm cười. Tên ấy rất phù hợp với vài tấm chăn ghép đầu tay của tôi. Nhưng bây giờ, đường kim mũi chỉ của tôi đã chắc chắn hơn, mắt chọn màu tinh tường hơn. Trong Hội Chữ thập đỏ, ai cũng hỏi ý tôi cách phối màu cho các tấm chăn ghép họ may tặng chiến sĩ. Sao Trên Trời Rộng nghe được không nhỉ? Được lắm chứ. Bất chợt, tôi nảy ra một ý: Quê Hương Của Hattie. Tôi mỉm cười. Đúng là thứ tôi cần tìm. Nhất định tôi phải kể ngay với chị Perilee mới được.
Trèo lên tới đỉnh gò đất cạnh nhà Perilee, tôi nhìn bao quát đồng cỏ. Có cái gì đó không ổn. Phải mất một lúc tôi mới xác định được dấu hiệu khác thường ấy. Không thấy có khói bay từ ống khói nhà chị. Nhất là trong một ngày đẹp trời thế này. Chưa kể nhà còn có em bé.
Hai chân tôi như mọc cánh bay xuống ngọn đồi nhỏ.
Tôi đập cửa thình thình:
- Chị Perilee! Mattie ơi! Mở cửa cho em.
Không có tiếng trả lời, chỉ thấy tiếng rên nho nhỏ như tiếng mèo con. Tôi nhấc then cửa, bước vào trong.
- Lạy Chúa lòng lành!
Hai đầu gối tôi mềm nhũn. Chị Perilee nằm bất động trên giường, đứa bé vắt ngang ngực chị. Mattie và Fern mặt tái xám, sốt hầm hập, nằm mê man dưới sàn nhà. Tôi ném khăn choàng sang một bên, vừa đi thẳng tới bếp lửa, vừa nói không ngớt:
- Chị Perilee, em đây. Hattie đây. Không sao đâu chị, sẽ ổn cả thôi.
Tôi châm lửa, đặt ấm nước, cả nhà đều sốt nóng, nước sôi chẳng để làm gì. Tuy nhiên, tôi cần chút thời gian tìm cách xử lý tình huống trước mắt. Không kịp tìm cô Leafie nữa rồi. Lúc tôi đi, nhỡ ở nhà xảy ra chuyện thì sao. Chỉ nghĩ đến đó thôi, tôi cũng đã rùng mình khiếp sợ.
- Con út!
Chị Perilee thều thào trước khi trao con bé cho tôi. Nếu có ẵm từ bếp lò ra, con bé cũng không thể nóng hơn.
- Chắc phải lau mát cho bé.
Chị Perilee gật đầu yếu ớt. Chị còn định nói thêm điều gì nhưng cơn ho đã ập đến. dù chị quay mặt đi nhưng tôi đã kịp nhận thấy cơn ho làm khuôn mặt chị tím tái.
Khi kéo nước cho Lottie tắm, tôi thấy hũ trà ngải đắng vẫn còn nguyên.
- Trời ơi!
Trà khó uống thật, nhưng biết đâu, nó cũng giúp được phần nào. Giờ có kêu ca cũng chẳng ích gì, tôi đổ trà vào nồi, hâm nóng trên bếp lửa.
Tôi cởi hết quần áo, tã lót ướt sũng của em bé. Con bé khóc nho nhỏ, đúng là tiếng tôi đã nghe được từ lúc đứng ngoài cửa. Lưỡi bé đóng bợn trắng xóa, hai mi mắt sụp xuống.
- Nào, ngoan nào.
Tôi dỗ dành trong lúc nhẹ nhàng tắm bé bằng nước giếng mát rượi. Hình như cách ấy cũng khiến bé dễ chịu phần nào. Tắm xong, tôi mặc tã cho Lottie, nhưng không mặc áo. Tôi bẻ bánh mì vào bát, rót sữa trộn trà ngải đắng lên trên và đút từng miếng nhỏ cho bé. Sau đó, tôi đặt Lottie lên giường, quay sang chăm sóc Mattie và Fern.
Fern tươi tỉnh hơn sau khi được tắm mát và cho ăn uống đầy đủ, nhưng Mattie không thế. Ói đầy lên người tôi, Mattie bèn nghẹo đầu, rên rỉ. Tôi đành đặt con bé lên giường.
Đến lượt mình được chăm sóc, chị Perilee khàn khàn phản đối:
- Sắp nhỏ!
- Em lo cho chúng rồi. Giờ đến lượt chị.
Tôi lấy khăn nhúng nước lạnh lau mặt, hai cánh tay và chân cho chị. Mới nuốt được ba miếng thức ăn vào miệng, chị đã ngủ thiếp đi và chỉ thức khi ho. Những cơn ho xé phổi, tưởng chừng muốn tống hết gan ruột chị ra ngoài. Tôi vào bếp, lấy hành thái thành nhiều lát mỏng, đem nướng trên bếp lửa. Khi hành mềm, chuyển sang màu trong suốt, tôi trộn với bột mì thành thứ bột nhão đem trét lên ngực chị Perilee. Mợ Ivy thường bảo hành là loại thuốc hữu hiệu nhất, có thể hút hết nọc của bệnh ho ra khỏi ngực người bệnh. Tôi cũng chỉ biết mỗi mẹo đó, ngoài ra không biết làm gì hơn.
Thứ thuốc ấy giúp cơn ho tạm lắng. Chị ngủ, lần này thì ngủ thật, khoảng vài tiếng đồng hồ. Trong lúc đó, tôi tiếp tục lau mát cho hai cô con gái, cố đút trà đắng, nước hoặc chút cháo đặc vào miệng chúng.
Fern thường rên rỉ mỗi khi tôi chăm sóc, nhưng Mattie cứ im thin thít. Tưởng chừng như mỗi hơi thở khò khè đều mang theo phần sinh lực còn lại của nó trút cả ra ngoài. Dù tôi có lau mát nhiều đến đâu, mặt Mattie vẫn đỏ bừng, nóng rẫy.
Tôi luôn tay như thế suốt ngày, đêm hôm đó và sáng hôm sau. Tôi chạy đi chạy lại giữa các bệnh nhân, hết lau nước, dỗ dành, lại cho ăn và cho uống thuốc. Tôi bận đến nỗi quên cả cầu kinh tối.
Bây giờ, tôi vừa lau nước cho Mattie xong. Khi tôi ẵm con bé về giường, nó giống búp bê vải Mulie, mềm oặt trong tay tôi. Tôi vuốt mái tóc ướt rượt của nó:
- Ngủ ngon nhé, Mattie. Khi nào em tỉnh táo hơn, chị sẽ mua nước soda hương trái cây mà em vẫn thích cho nhé.
Một nụ cười thoáng qua trên khuôn mặt xanh xám của cô bé. Tôi cầm tay Mattie, nắn nhẹ ba lần: Một, hai, ba. Nhưng con bé không nắm tay đáp trả.
Chị Perilee gọi khẽ từ phòng trong. Tôi lê đôi chân mệt mỏi vào đỡ chị đi vệ sinh. Càng lúc, hai mí mắt tôi càng sụp xuống. Nhưng đã đến giờ tắm, thay tã cho Lottie và lau nước mát, thay quần áo cho Fern. Lần này, Fern ăn được mười miếng bánh mì nhúng sữa.
- Giỏi lắm!
Thật lạ! Một em bé nhỏ xíu có thể mang lại niềm vui to lớn đến vậy. Lát sau, tôi vừa ngáp, vừa rửa bát. Tôi phải ngồi. Dù chỉ một phút thôi. Cái ghế ngay kia. Giá đôi chân không phải đứng một lúc sẽ dễ chịu lắm. Chỉ một phút thôi mà.
Mãi sau, tôi giật mình tỉnh giấc. Hốt hoảng, tôi chạy vào xem mấy bệnh nhân thế nào. Lottie đã mát hơn, hiện đang ngủ say. Sắc mặt Fern có biến chuyển tốt, còn chị Perilee vẫn còn ngủ. Khi đến bên Mattie, tôi thấy môi cô bé thâm đen, làn da tái ngắt, nhớp nháp. Mattie thì thầm gọi Mulie.
- Búp bê đây cưng, ngay cạnh em nè.
Tôi đặt con búp bê vải vào tay bé. Nhưng hình như Mattie không nhìn thấy Mulie. Con bé cứ vươn tay ra, khóc lóc:
- Mẹ ơi!
Chỉ có thế rồi lặng yên. Tôi ẵm Mattie lên tay, đu đưa nhè nhẹ. Cơ thể nhỏ bé nóng hổi của nó khò khè ngay sát người tôi. Tôi lắc nhẹ bé trong tay như thế khoảng mấy phút đồng hồ. Bất chợt, tiếng khò khè đáng sợ kia ngừng hẳn.
- Mattie!
Không có tiếng trả lời. Tôi cầm bàn tay vẫn còn ấm của bé nắn nhẹ: Một, hai, ba. Không hề có phản ứng nào. Tôi ôm chặt con bé vào lòng:
- Mattie, cưng ơi. Tỉnh dậy đi em.
Tôi thầm cầu khẩn: “Lạy trời! Đừng bắt em đi! Người nhất định không được bắt em đi”.
Tôi tiếp tục đung đưa Mattie trong tay thêm một lúc lâu nữa. Tôi tin rằng nếu cứ lắc như thế, chuyện xảy ra trước mắt tôi sẽ không là sự thực. Rồi Mattie sẽ thức dậy, gọi Mulie và liến thoắng kể về giấc mơ đẹp vừa qua. Con bé sẽ trèo lên lòng tôi, đòi chăm sóc Mulie như tôi đã chăm sóc bé. Mattie sẽ lại hát ru khe khẽ cho Fern và Lottie nghe. Con bé sẽ chạy lại nựng má mẹ. Nếu tôi cứ tiếp tục đung đưa thế này, Mattie sẽ làm tất cả những việc ấy và còn hơn thế nữa. Thể nào cô bé cũng tỉnh dậy mà.
Fern cựa mình, rên khẽ:
- Mẹ ơi!
Tiếng Fern đánh thức Lottie. Bé út cất tiếng khóc. Tôi chậm dần tay đưa. Nhiều người khác đang cần tôi.
Tôi phải đứng lên rồi.
Dù Mattie không còn cảm thấy gì nữa, tôi vẫn dịu dàng vuốt tóc bé. Khi cúi xuống thơm lên đôi má lạnh ngắt, lòng tôi đau thắt. Tại sao em bé dễ thương nhường này lại phải chịu bất hạnh nhường kia? Trời ơi, tại sao cơ chứ? Tôi ngừng tay đưa, ngồi yên thật lâu, hai tay ôm chặt thân hình châu báu ngọc ngà, nước mắt chảy ròng ròng.
Fern thều thào:
- Mẹ ơi!
Tôi đứng dậy, ẵm Mattie ra thềm, nhẹ tay đặt con chim chích chòe nhỏ vào tràng kỷ, để Mulie ngang ngực bé. Tôi chậm rãi phủ chăn lên những ngón chân mũm mĩm, đắp kín hai bàn tay mà tôi từng nắm lấy không biết bao nhiêu lần và cuối cùng phủ lên mái tóc nâu dợn sóng.
Từ phòng ngủ, giọng chị Perilee nghèn nghẹn vẳng ra:
- Hattie!
- Em đến ngay đây.
Tôi kéo tạp dề lên chùi mắt. Dù muốn chia sẻ nỗi buồn này đến đâu, tôi cũng không thể cho Perilee biết. Ít nhất là ngay lúc này. Chờ chị rời giường bệnh, đi lại được bình thường hẵng hay.
Ngày hôm ấy qua đi lờ mờ với những lần tắm rửa, cho ăn và đút thứ trà đắng nghét vào miệng Fern. Lottie và chị Perilee. Tôi không dám chợp mắt, cũng không muốn ngủ. Chỉ có tỉnh táo mới có thể ngăn thần chết không ghé thăm nhà này lần nữa.
Đến bữa điểm tâm của ngày thứ ba, cô Leafie ghé đến:
- Cô qua nhà cháu, thấy lũ gà nháo nhào đòi ăn. Cô đoán cháu ở bên này.
- Không hay rồi, cô ơi!
Vì không thể vỗ về chị Perilee, tôi chỉ có thể gục đầu vào cánh tay cô. Cô Leafie giở tấm chăn phủ lên xác người nằm ngoài thềm.
- Trời! Không thể là chích chòe được. Mattie ơi!
Cô quỳ bên tràng kỷ một lúc lâu:
- Perilee biết chưa?
Tôi gật đầu, đau thấu tâm can khi nhớ lại giây phút ấy. Khi nghe tôi báo tin dữ, chị Perilee im lặng lạ thường. Như thể chị đã biết từ lâu, từ khi chị vẫn còn sốt nóng.
Cô Leafie nhắm mắt. Tôi đưa cô chiếc khăn tay. Chúng tôi đứng bên nhau, tay ôm quàng lưng nhau, cùng khóc lặng lẽ trong cảm giác mất mát làm tê tái cõi lòng.
Cô lau mắt:
- Cô cháu mình phải tắm cho Mattie. Mặc quần áo cho nó. (Cô nghẹn ngào). Perilee muốn con bé mặc gì?
Câu hỏi ấy lại khiến nước mắt rơi như mưa. Nhưng hai cô cháu tôi phải tự trấn tĩnh. Cô vào nói chuyện với chị Perilee. Lát sau, cô mang ra chiếc váy Mattie hay mặc vào ngày Chủ nhật. Sau đó, chúng tôi tắm rửa và mặc váy áo cho Mattie lần cuối cùng.
Xong xuôi, tôi nghe tiếng vó ngựa. Karl và Chase! Tôi chặn họ ngay ngưỡng cửa:
- Đừng vào! Trong nhà toàn mầm bệnh cúm. (Tôi không dám nhìn thẳng mắt anh Karl). Hai người ở ngoài này một lát đã.
Anh Karl gật đầu. Anh sai Chase làm một việc vu vơ ngoài nhà kho, đoạn bảo:
- Chắc có chuyện.
Tôi kéo khăn choàng sát vai hơn:
- Là Mattie.
Tôi chỉ nói được có thế. Anh Karl ôm mặt đau đớn. Rồi anh gật đầu, quay lưng bỏ đi.
Hôm sau, anh quay lại với chiếc quan tài nhỏ, chắc chắn, do chính tay anh đóng.
Ngày 28 tháng Mười, sinh nhật lần thứ mười bảy của tôi thành ngày làm tang lễ cho Mattie.
Chị Perilee còn quá yếu, chưa đi lại được nên anh Karl, cô Leafie, Chase và tôi cùng chôn cất người thân.
Tôi nhờ anh Karl về lấy cho tôi chiếc váy màu xanh biển. Và một thứ nữa.
- Hoa của em héo hết rồi. Anh vào kho, tìm mấy bông hoa bằng giấy kếp trong rương của cậu Chester mang sang đây cho em.
Sáng ngày làm đám tang cho Mattie, tôi nấu chảy sáp trên bếp lò, cẩn thận nhúng từng bông hoa giấy vào đó. Khi chụm mấy bông hoa phủ sáp thành bó, tôi phải hết sức cẩn thận. Trước khi anh Karl đóng nắp quan tài, tôi lại gần nhìn Mattie lần cuối, tạm yên lòng khi thấy Mulie nằm sát cạnh Mattie. Chase bảo:
- Em bỏ Mulie vào đấy. Em không muốn Mattie ở một mình.
Tôi ép chặt bàn tay vào môi, cố không khóc trước mặt Chase. Lát sau, tôi tự trấn tĩnh, bèn quàng tay qua vai Chase.
Hai chị em tôi theo cô Leafie và anh Karl rời xa ngôi nhà. Anh Karl bảo:
- Perilee muốn con bé nằm đó.
Anh Karl, Chase, cô Leafie và tôi đứng trước hố huyệt mới đào trên đỉnh gò đất nhỏ nằm phía Đông của ngôi nhà. Anh Karl bảo:
- Mỗi sáng, Mattie sẽ được ngắm mặt trời mọc.
Cô Leafie hỏi:
- Cháu có muốn nói gì không?
- Cháu ư?
Cô lừ mắt nhìn tôi. Tôi hít một hơi thật sâu và đếm đến mười. Tôi không biết nói gì bây giờ.
Tuy nhiên, tôi vẫn mở lời:
- Lạy Chúa, ngày đầu xin Người kiên nhẫn với Mattie. Con bé nói suốt ngày, sẽ không cho đôi tai Người được ngơi nghỉ...
Cả anh Karl và Chase cùng gật đầu.
- Nhưng rồi Người sẽ sớm thấy cô bé là ánh thái dương, là trái dâu tây chín mọng mỗi ngày. Xin Người ân cần chăm sóc con chích chòe nhỏ của chúng con. Lạy Chúa lòng lành, xin giúp chúng con (giọng tôi vỡ ra) giúp chúng con quen với cảnh vắng Mattie.
Cô Leafie sụt sịt:
- Amen.
Chase quàng tay ôm ngang lưng tôi, tôi ghì chặt cậu bên mình. Anh Karl xúc từng xẻng đất đầy phủ lên cái hộp bằng gỗ con con do chính tay anh đóng. Chúng tôi ở lại cho tới huyệt được lấp đầy. Sau đó, tôi cắm lên mộ ba bông hoa phủ sáp mang theo. Khi mang theo nỗi buồn thương trở về, tôi tưởng thân mình đã bị xẻ làm đôi.
Trong vùng không chỉ có chúng tôi chịu mất mát. Nhà Nefzgers mất Leta, ông Ebgard mất vợ. Ngay cả đống vàng nhà Martin cũng không ngăn được buồn đau: Lon, con út bà Martin sống sót sau cơn bạo bệnh, cả Sarah nữa. Nhưng mẹ của hai đứa trẻ, sau khi chăm sóc hai con hết mình, lại lây cúm và không thể qua khỏi.
Ông Dye bán thật nhiều băng tang và vẫn còn bán tiếp cho tới tận tháng Mười một.
------------
Còn tiếp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét