Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Khoảng Trời Mênh Mông - Ch 16


Khoảng Trời Mênh Mông
(Hattie Big Sky)

Tác giả: Kirby Larson

Người dịch: Vũ Kim Dung

NXB Văn Hóa Sài Gòn - 2008

Chương 16

Tháng Sáu, năm 1918

THỜI BÁO ARLINGTON
Mục Chuyện Nhà Nông

Thời gian May Vá

Cô Simpson, cô giáo trung học của tôi sẽ tán thành những bài học cuộc sống mới đang dạy tôi, dù trong đó có ít phần dựa trên sách vở. Nhiều kỹ năng nữ công gia chánh của tôi đang tiến bộ rõ rệt - ngoài mức cần thiết. Dù chưa bao giờ dám thi nướng bánh với chị láng giềng Perilee, nhưng chắc những món do tôi nấu ăn không đến nỗi nào. Nếu nói thế là không cường điệu thì kỹ năng may chăn ghép của tôi đứng hạng nhất trong lãnh vực nữ công gia chánh. Những đêm tĩnh mịch nơi đây cho người ta không gian thích hợp để đào sâu suy nghĩ. Khi mới chân ướt chân ráo đến đây, tôi cứ tưởng vùng đất này buồn tẻ và nhạt nhẽo. Giờ đây tôi ngắm nhìn mọi gò đất, đồi cao, mọi hẻm đá khe sâu bằng ánh mắt trìu mến. Phong cảnh đẹp như tranh này nhất định phải được ghi lại trên chăn ghép.
Trước khi bắt tay may chăn mới, tôi phải may xong tấm chăn dành cho một cư dân mới sắp chào đời nay mai. Tôi nhớ hồi ở Arlington, các bà mẹ trông cậy vào bác sĩ Tupper; còn ở đây họ trông cậy vào cô Leafie Pulvis.


- Chị đọc tờ báo này chưa?
Tôi vuốt dọc sợi chỉ đến đoạn cuối để thắt nút. Cuối cùng, mợ Ivy đã có thể hãnh diện về tôi. Không bị tuột chỉ này. Không cần phải thắt nút quá chặt để chỉnh lại mảnh ghép cho ngay hàng thẳng lối này. Tôi cắt bớt phần chỉ thừa:
- Chị định làm gì cho cái Tháng Sáu Không Lúa Mì này?
Chị Perilee thở dài, bắt sang một đường khâu mới:
- Làm như loạt quy định cũ về lương thực chưa làm người ta đủ khổ ấy. Vậy mà chị tưởng sẽ không còn phải thèm vị bánh mì nhạt chế biến theo kiểu cũ nữa.
Tôi dừng tay, với chiếc bánh ngô trên đĩa:
- Chị thật khéo chọn nguyên vật liệu thay thế. Em ăn mãi bánh này không chán.
Đang chăm chú may, chị ngẩng lên nhăn mặt:
- Chị chịu không thấu mùi bánh ngô này.
Tôi kéo sợi chỉ trong ống, lấy một đoạn đủ dài. Nói chị Perilee xanh mặt quả không ngoa. Có lẽ đem chuyện đồ ăn thức uống ra bàn lúc này chẳng phải khôn ngoan nhất. Lúc trước, cô Leafie đã kéo tôi ra một chỗ, giảng giải về thể trạng chị Perilee trong khoảng thời gian ngay trước lúc lâm bồn: “Perilee sẽ giống gà mái, chỉ muốn ấp trứng, không quan tâm gì đến ăn uống cả”. Tôi muốn động viên chị ăn thêm cho có sức khỏe. Cô Leafie cũng chỉ bảo vài động tác cần thực hiện khi chị bắt đầu cơn vượt cạn, nhưng tôi không chịu nghe cho kỹ. Cần gì phải nghe kỹ chứ. Hễ có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy em bé muốn “chui ra”, anh Karl sẽ đi đón cô Leafie ngay. Tôi nhớ mỗi việc trải báo ra dưới giường và dùng chỉ thắt cuống rốn thôi. Cuối cùng, tôi van vỉ: “Thôi cô đừng nói nữa. Nếu không cháu phát sợ, lóng ngóng làm hỏng chuyện bây giờ”. Nghe vậy, cô Leafie nhìn tôi, chép miệng chán chường.
Tôi đổi đề tài:
- Giờ em ngồi đây, chịu kim đâm đến xương vì đứa nhỏ trong bụng chị kia. (Nghe thế, chị âu yếm vỗ về cái bụng bự). Vậy bao giờ chị mới cho em hay chị định đặt tên gì cho thằng bé?
Chị mỉm cười:
- Hoặc con bé.
- Ừ nhỉ.
Perilee lắc đầu:
- Tụi chị cứ đắn đo mãi. Nếu là trai, chị muốn đặt tên theo bố. Nhưng nếu là gái, con bé sẽ lấy tên mẹ: Charlotta.
Tôi vừa gật đầu vừa xâu kim. Chị nói thêm:
- Nhưng chỉ gọi tắt là Lottie thôi.
- Dễ thương quá.
Tôi lại cắm cúi khâu. Châm kim vào vải, đẩy kim xuống, kéo sợi chỉ. Rồi lại châm, đẩy, kéo. Cứ thế không ngừng. Chị Perilee cắn chỉ:
- Nhưng anh Karl không đồng ý. Anh ấy bảo đặt tên như thế chỉ tổ sau này rước họa vào thân.
Nghe vậy, tôi không khỏi nghĩ ngợi. Hồi này, sao người ta khắc nghiệt với nhau quá thể. Ngoài chuyện gây sự với anh Elmer và nhiều người khác, Traft và đám bạn anh ta còn đi khắp nơi thúc ép bà con vào Hội Ái quốc: “Cách chống giặc Đức hiệu quả ngay tại địa phương”. Tôi có nghe Traft lải nhải bên tai ông Schillinger như thế. Vậy nhưng, anh ta tuyệt nhiên không đả động đến tôi. Chắc Traft thừa biết tôi đã có giấy mời nhập Hội “giao tận nhà”.
Tôi cố giữ giọng đều đều:
- Chắc anh Karl muốn lường trước chuyện mai sau. Hay ta dùng làm tên đệm vậy?
Chị ngả hẳn vào lưng ghế, tay xoa xoa vùng eo dưới:
- Chị cũng nói y như em vậy. Nhưng anh ấy vẫn không chịu. Ôi. Tại ngồi lâu quá đấy mà.
Chị với tay lên kệ phía trên bếp lấy cái mũ cũ xuống:
- Vì thế ta hãy làm theo cách của chị. Mỗi người viết một tên vào giấy rồi bỏ vào mũ. Mình gắp trúng tên nào thì em bé sẽ mang tên đó.
- Chị định làm thế thật à?
Chị cười tươi:
- Đừng nói với ai nhé: Chị đốt hết mấy cái tên chị không ưng đi rồi. Này nhé: Mattie đòi đặt tên em là Mullie hoặc Công Chúa, Chase lại muốn là John Dòng Sông Bạc. (Chị chìa chiếc nón về phía tôi). Em cũng bỏ tên vào đây đi.
Tôi trêu chọc:
- Để chị lại ném vào bếp ấy à? Thôi, cảm ơn. (Tôi cũng vươn vai). Hôm nay làm thế thôi vậy. Em còn vài việc ở nhà phải làm cho xong.
Chị Perilee giơ tấm chăn lên. Hai chị em tôi đang dùng vải hoa vàng may viền bốn góc chăn.
- Chắc là đẹp lắm đây. Mình gọi nó là Sao Lấp Lánh nhé. (Chị vuốt nhẹ mặt trước tấm chăn). Chị đang mong con từng ngày.
- Đừng. Phải chờ may xong chăn đã chứ. Theo em tính thì phải vài tuần nữa, chị em mình mới may xong được.
Chị Perilee vờ hờn dỗi:
- Xin vâng. Theo ý cô, chị đành “nhịn đẻ” thêm vài tuần nữa vậy.
Trước nay, chị Perilee đã hứa là làm. Nhưng hóa ra lần này, chị lại thất hứa.
Mấy ngày sau, một đêm tôi đang ngủ say chợt giật mình vì tiếng vó ngựa giậm thình thịch quanh sân. Tiếng anh Karl sang sảng:
- Cô Hattie! Em bé.
Tôi mặc vội quần áo:
- Đừng phí thời gian ở đây. Anh đi đón cô Leafie đi.
Anh gật đầu, giục con Star đi mau. Plug cáu kỉnh vì phải đi lúc nửa đêm, nhưng khi biết không thể quay lại chuồng, nó biết điều chạy thẳng đến nhà chị Perilee.
Chase chạy ra đón tôi. Khi nhận dây cương từ tay tôi, nó bảo:
- Mẹ đang gọi chị kìa.
Lo lắng khiến khuôn mặt hình trái tim của nó cau lại. Nên giao việc cho Chase để giúp cậu giải tỏa căng thẳng:
- Em đi lấy củi được không? Chắc cô Leafie cần lắm đấy.
Chase gật đầu, nghiêm chỉnh thực hiện ngay công việc được giao.
Tôi vội vào nhà. Fern và Mattie (tất nhiên cả Mullie) nép vào nhau ngủ say sưa trên chiếc giường nhỏ kê gần bếp lửa. Mấy cô bé có tài ngủ ngay cả lúc sấm động, bão lớn.
Chị Perilee đang nằm ở phòng trong.
- Đứa nhỏ không chịu chờ may xong chăn hả chị?
Tôi mang khăn ẩm đến lau trán cho chị. Chị nắm lấy tay tôi:
- Sao lần này nhanh thế không biết.
Chị nhăn mặt đau đớn, miệng rên khe khẽ. Chị vẫy tay ra hiệu cho tôi đóng cửa phòng ngủ. Tôi an ủi:
- Không sao đâu. Cô Leafie đến ngay bây giờ.
Chị lắc đầu:
- Khác mấy lần trước lắm em ạ.
Tôi vuốt tóc chị:
- Em ở ngay đây.
- Anh Karl mong đứa con này lắm.
Nước mắt chảy thành dòng trên má chị.
- Rồi anh ấy lại chiều nó đến phát hư mất thôi, chị nhỉ.
Nghe vậy chị mỉm cười yếu ớt. Nhưng ngay sau đó, nụ cười biến thành cái nhăn mặt đau đớn.
- Chị muốn em làm gì nào?
Chị gượng ngồi dậy, chỉ vào phần lưng dưới:
- Chỗ này đau như dần. Em xoa hộ chị tí nhé?
Quỳ một chân lên giường, tôi ghé sát lại nắn nhè nhẹ bên ngoài lớp váy ngủ bằng lanh.
- Đỡ không chị?
Chị chỉ gật đầu. Tôi cứ xoa như thế cho đến khi hai tay mỏi nhừ. Cuối cùng, chị bảo:
- Chị phải nằm xuống đây.
Tôi đỡ chị ngả xuống giường. Ra đến ngưỡng cửa, tôi dừng lại:
- Cô Leafie chắc cần nhiều nước nóng. Lấy nước đầy ấm xong, em sẽ vào ngay.
Chase không chỉ lấy đầy một xô mà cả hai xô chất đốt. Lúc này cậu đang cời đống lửa cháy rừng rực.
- Giỏi quá, chị có làm cũng không hay bằng. Giờ em giúp thêm việc nữa nhé. (Tôi đưa cậu từng xách nước). Mình cần đun nước em ạ. Chị đoán phải ba xô này mới đủ.
Tôi chưa kịp nói hết câu, thằng bé đã ra tới cửa. Chẳng mấy chốc, ấm nước đầy đã chờ sôi trên bếp lửa. Xách xong thùng nước cuối cùng, Chase hỏi:
- Giờ em làm gì hả chị?
Tôi chỉ vào túi sách mang theo từ nhà:
- Tìm trong túi chị ấy. Chắc sẽ có thứ em quan tâm.
Tôi không ở lại xem thằng bé phản ứng ra sao với cuốn David Copperfield. Perilee đang đợi. Chỉ cần thoáng qua, tôi cũng đoán được chuyện gì sắp xảy đến. Tôi lẩm bẩm giục thầm: “Cô Leafie ơi, nhanh lên chứ”. Chị Perilee thở hổn hển:
- Leafie... chưa đến.
- Chưa. Nhưng đến ngay bây giờ đấy.
Vừa nói tôi vừa cầu lời mình sẽ thành sự thật. Chị Perilee ngước lên nhìn tôi:
- Không... chờ... được. Lấy... báo.
Tôi bủn rủn chân tay. Tôi nâng chị dậy, luồn mấy lớp báo xuống dưới giường.
Làm gì tiếp bây giờ? Sửa soạn đón em bé. Ở nông trại không có nôi bằng mây đắt tiền như mấy cô gái ở Iowa thường kháo nhau. Tôi vớ lấy giỏ đựng quần áo đan bằng cây liễu gai, lấy chăn lót sạch xung quanh. Còn đệm cho em bé sẽ là cái gối nhồi lông vũ. Chị hét lên:
- Hattie! Con chị!
Tôi vội chạy đến bên. Chị vừa thở hổn hển vừa rặn mạnh. Khuôn mặt tái nhợt ướt đầm mồ hôi.
- Chết rồi, em bé!
Không còn lựa chọn nào khác. Tôi đứng xuống cuối giường, cố tận dụng hết khả năng của mình. Sau một cú trượt nhẹ, một hình hài nhỏ xíu nằm gọn trong tay tôi. Tôi hét lên:
- Là con gái!
Chị Perilee nhắm mắt, vật đầu xuống gối. Dùng chỉ vẫn thường khâu chăn, tôi thắt dây rốn và cắt ngay đoạn trên. Tôi biết thỉnh thoảng người ta đánh nhẹ vào mông em bé cho nó khóc. Như thế mới nở phổi. Nhưng tôi không thể tưởng tượng mình có thể đang tâm đánh sinh linh nhỏ bé, quý giá vô ngần này. Trẻ sơ sinh nào cũng bé tẹo thế này sao? Ơn trời, chắc con bé cũng biết tôi mới tập tọng chơi trò “bà đỡ”. Nó tự khóc:
- Oa! Oa!
- Người thì bé mà ồn ào quá thể!
Tôi trầm trồ. Mặt nhắm nghiền, chị Perilee mỉm cười mãn nguyện. Tôi lau em bé rồi trao vào tay bà mẹ. Trong lúc hai mẹ con chăm chú ngắm nhau lần đầu, tôi cố lẹ làng dọn giường, chăm sóc chị Perilee. Khi thấy quá nhiều máu, tôi phải cố trấn tĩnh. Ước gì cô Leafie đến ngay và bảo tôi rằng như thế là bình thường.
Dù mới bé tẹo, hài nhi đã biết phải làm gì khi được đưa đến gần vú mẹ. Bên cạnh Perilee, trông nó mới nhỏ nhoi làm sao.
Cửa buồng ngủ bật mở, cô Leafie ào đến như một cơn gió. Cô phát nhẹ vào lưng tôi:
- Nhìn qua cũng thấy cháu xoay sở giỏi đấy.
Cô xua tôi ra ngoài rồi quay sang chăm sóc Perilee. Vài phút sau, cô gọi tôi và anh Karl vào. Cô trao hài nhi quấn trong mấy lớp chăn bằng vải lanh cho anh Karl.
Anh dịu dàng ôm con, áp con vào mặt mình, khẽ khàng hôn trán bé. Cô Leafie tỏ ra vui vẻ nhưng tôi đã thấy tia lo âu ẩn trong khóe mắt cô.
- Trông con bé dễ thương chưa kìa.
Tôi hỏi:
- Cháu làm gì bây giờ?
- Trước hết, hãy hôn bé Charlotta một cái thật kêu nào.
Tôi quay sang chị Perilee:
- Em tưởng chị sẽ rút thăm tên trong mũ?
Chị mỉm cười. Anh Karl đưa hài nhi cho tôi rồi quay sang vợ. Tôi thơm bé thật trìu mến. Cô Leafie cúi xuống em bé, nhân tiện bảo nhỏ tôi:
- Phải giữ ấm cho thiên thần nhỏ này. Cháu đặt con bé vào nồi nước lớn, loại thường để nướng bánh ấy. Nhưng nhớ lót chăn trước đã. Sau đó đặt nồi sát cửa bếp.
Tôi nhìn cô:
- Cô nói nghiêm túc ấy chứ?
Cô gật đầu:
- Hơn một đứa trẻ đã được cứu sống bằng cách ấy.
Tôi làm đúng như cô bảo và giữ em bé trước cửa lò suốt đêm. Mỗi khi bé Lottie tỉnh giấc, khóc oe oe như mèo con, tôi lại vội bế bé vào cho chị Perilee. Bé bú, ợ hơi xong tôi lại nhanh chóng đưa bé trở ra bếp. Chúng tôi theo trình tự ấy đúng một tuần liền. Mỗi sáng, khi làm xong việc nhà, tôi lại chạy sang nhà chị Perilee và ở lại cho đến khi trời sẩm tối. Cầu trời phù hộ Jim Gà Trống; suốt một tuần đó anh sang giúp tôi nhổ cỏ vườn nhà tôi, nhân tiện chăm sóc đàn gà. Cuối cùng, vẻ lo âu trên mặt cô Leafie biến mất hoàn toàn. Cô bảo:
- Theo cô, giai đoạn đáng lo ngại nhất đã qua rồi. “Cô nương” Lottie sẽ ổn thôi.
Chị Perilee cũng tươi tỉnh hơn. Một hôm, khi tôi đang giúp chị nướng bánh, chị bảo:
- Xin lỗi em vì chị hay cả lo. Chị chỉ sợ nhỡ có bề gì. (Chị vỗ nhẹ lưng em bé đang ngủ trên vai). Nói ra chắc em tưởng chị dở hơi, nhưng tình hình chiến sự ác liệt cùng bao chuyện dồn dập tới thế này, chị chỉ lo... (Chị nhìn thẳng vào mắt tôi) anh Karl không kịp vui khi đón đứa con này.
Hai cánh tay tôi nhào bột đã rã rời. Tâm tư tôi cũng buồn rũ, sau bao buồn tủi đã qua, chị Perilee vẫn không thể thanh thản tận hưởng những điều tốt đẹp cuộc đời ban cho mình.
- Nếu ông trời có mắt, sao không giáng sấm sét xuống cái Hội đồng Tự vệ quỷ tha ma bắt ấy?
Câu nói đùa của tôi kéo về một nụ cười hiếm hoi trên khuôn mặt chị Perilee. Chị phụ họa:
- Hay xuống đầu vua Đức chẳng hạn?
- Hay xuống bà Martin Chủ nhật nào cũng diện cái váy vàng chóe ấy?
Hai chị em cùng cười. Perilee chuyển bé Lottie sang vai bên kia.
- Này Hattie, em phải cẩn thận đấy. Ác miệng thế thì không chừng sét đánh trúng em bây giờ.
- Vâng, em biết thân rồi.
Vui vì khiến chị vui lên một chút, tôi hăng hái chia nắm bột thành hai ổ lớn và khoảng mười bánh tròn:
- Giờ em làm gì tiếp.
Chị Perilee vừa chải tóc cho Mattie xong:
- Thôi, không làm gì nữa cả. Chị cả trong nhà cũng không chăm bằng em hôm nay đâu.
Tôi cởi tạp dề treo cạnh bếp:
- Nếu chị thấy tự xoay sở được, chắc em về nhà mấy ngày. Em còn bài báo, với lại phải nhổ cỏ nữa.
Sự thật là, dù được Jim Gà Trống giúp nhiều nhưng công việc ở nhà tôi vẫn còn nhiều lắm.
Tuy nhiên, tôi không muốn chị Perilee buồn.
Cảnh nhà thật quạnh quẽ, ngay cả lúc “Ngài” Whiskers cáu kỉnh kêu meo meo, ra điều không bằng lòng vì tôi đi lâu quá. Người tôi luôn đau nhức: đau lúc làm cỏ ngoài đồng, đau lúc xách nước tưới cây trong vườn, đau khi cho đàn gà ăn và đau cả khi dọn phân trong chuồng ngựa. Lúc đầu, tôi tưởng mình mắc chứng cúm vào hè. Đến đêm thứ hai ở nhà, một mình một bóng bên bàn ăn, tôi mới biết mình đoán sai. Chính nỗi cô đơn, không phải bệnh tật, đang gặm nhấm xương tủy tôi. Tôi nhớ tiếng Mattie hát vang nhà, nhớ bé Fern cười khúc khích, nhớ mùi hương dịu ngọt của hài nhi, nhớ lúc đọc sách cho Chase trước giờ đi ngủ và nhớ cảnh gia đình quay quần quanh bàn ăn khi màn đêm buông xuống.
Tôi nhớ gia đình.
          
Ngày 18 tháng Sáu năm 1918
Cách Vida ba dặm về hướng Tây Bắc

Charlie thân mến,

Đọc thư anh viết: “Từ khi sang Pháp, anh đã thay đổi, em rất hiểu tâm sự của anh. Anh chỉ nhắc đến những thay đổi thể chất. Còn nữa, em không tin anh lên gần mười kilogram! Tuy nhiên, dù anh không kể, em vẫn hiểu anh vẫn còn trải qua nhiều chuyện khác nữa.
Thư trước em có báo chị Perilee sắp sinh. Hôm 11 tháng Bảy vừa rồi, chị ấy đã cho ra đời một bé gái, Charlotta. Em cũng giúp bà đỡ một tay đấy nhé. Chuyện ấy chắc cũng giúp anh hình dung những thay đổi của em trong thời gian qua. Khi mới đến, em tưởng mình chỉ sắp có quyền sở hữu một miếng đất nhỏ. Nhưng thứ mảnh đất nhọc nhằn này tặng cho em còn hơn thế gấp nhiều lần.
Em nghe mẹ anh kể bà gửi cho anh vài bài báo ngớ ngẩn của em đăng trong mục Chuyện Nhà Nông của tờ Thời báo Arlington. Dù giọng văn chưa sắc sảo, nhưng chúng sẽ giúp anh hiểu rằng trái tim em giờ gắn bó bền chặt với nơi này, chẳng khác nào cây đào nhà Jim Gà Trống cắm sâu chùm rễ vào đất mẹ Montana.

Mãi là bạn anh
Hattie
------------
Còn tiếp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét