Khoảng Trời Mênh Mông
(Hattie Big Sky)
Tác giả: Kirby Larson
Người dịch: Vũ Kim Dung
NXB Văn Hóa Sài Gòn - 2008
Chương 19
Tháng
Tám năm 1918
THỜI BÁO ARLINGTON
Mục Chuyện Nhà Nông
Mùa Thu Hoạch
Giờ tôi có đủ khả năng trình bày tại trường Đại học Nông nghiệp của bang về cắt và tuốt lúa. Lúc này, ngựa Plug cùng với mấy “chàng” bạn thân là Joey, Star và ngựa nhà Wayne, con Sage. Bộ tứ ấy được cột vào máy buộc lúa (việc ấy không khó khăn gì ngay cả đối với đôi bàn tay nhỏ bé của tôi). Và cứ thế chúng đi khắp ruộng lúa mì. Lanh đã cắt xong cả. Thật tiếc làm sao vì tôi chưa sẵn sàng xóa sổ “đại dương nho nhỏ” của mình. Cánh đồng lanh mùa hoa nở có khác gì biển cả: Hàng mẫu đất trồng hoa mang màu xanh của biển dập dìu theo gió tháng Tám có thể ví với sóng biển dào dạt xô bờ.
Lúc này đây, cái cỗ máy ngựa kéo ấy đang cắt phăm phăm lúa mì trên ruộng. Cái guồng đưa cây lúa đang mọc thẳng vào lưỡi dao. Tôi không biết trong bộ phận buộc lúa có phép lạ gì, nhưng sản phẩm cuối cùng là những bó lúa được buộc ràng gọn ghẽ. Những bó ấy sẽ được chất đống cuối ruộng chờ khô. Sau ngày đầu thu hoạch, tôi đi “thị sát” “vương quốc” của mình với tâm trạng không khác gì một quân vương quyền thế. Vài tuần nữa thôi, bà con lối xóm sẽ đến giúp tôi tuốt lúa. Lúa mì của tôi đấy. Liệu có từ nào trên đời trìu mến hơn chăng? Độc giả nào là nông dân kỳ cựu chắc sẽ phải phì cười vì thấy tôi vui đến thế. Nhưng hãy xin nhớ lại mùa gặt đầu tiên trong đời mình. Tôi tin chắc độc giả cũng phải công nhận những cảm xúc của mình ngày đó cũng giống cảm xúc của tôi bây giờ.
Nhịp điệu mưa hân hoan, vui vẻ suốt mấy tuần
đầu tháng Tám. Sau đó, thời tiết còn nóng hơn cả lúc trước. Nhờ hai anh Karl và
Wayne giúp đỡ, việc gặt và bó nông sản nhà tôi chỉ mất vài ngày. Tôi cũng sang
giúp họ như họ đã giúp tôi khi trước. Chỉ vài tuần sau, lúa nhà tôi đã được chất
thành từng đống (mỗi đống mười hai lượm) đứng sừng sững ngoài đồng.
Thời tiết thuận lợi cho lúa đang phơi,
nhưng chẳng tốt đẹp gì đối với tính khí của người và vật. Con Plug nền tính là
thế cũng giở chứng bất kham khi tôi lôi nó sang giúp nhà Robbins. Cũng trong
đêm đó, tôi lục cục chuẩn bị bữa tối. Tôi bày đĩa men ra bàn, đầu tính cách kiếm
cái gì ăn mà không phải nấu nướng. Chỉ sau vài phút quay lưng chế biến, tôi
quay lại cầm dĩa đã thấy nóng rẫy.
Ăn xong, tôi mang lá thư tính gởi cậu Holt
ra thềm viết nốt. “Ngài” Whiskers vươn vai trên ngưỡng cửa, cố vươn hết chiều
dài thân mình hầu mong đón một luồng gió mát thổi qua. Tôi cúi xuống gãi bụng
nó, thế mà nó chẳng buồn nhúc nhích. Tôi viết trong thư gửi cậu:
“Anh Karl bảo thời tiết nóng thế này, chỉ hai
tuần sau là tuốt lúa được rồi. May mà cháu không trồng ngô. Nếu không, ngô sẽ bị
rang chín ngoài đồng trước khi kịp thu hoạch”.
Ngoài khe đá có mấy đám mây bụi dâng cao.
Ai đó đang cưỡi ngựa đến gần. Chắc anh Wayne đi săn về. Tuần trước, anh có mang
sang cho tôi một cặp gà rừng.
Nhưng lần này không phải ngựa Sage đang phi
nước kiệu vào tầm ngắm của tôi. Chỉ có trại nuôi gia súc Tipped M mới có con ngựa ấy. Ngồi vắt vẻo trên lưng
con tuấn mã không ai khác ngoài Traft Martin.
Hò ngựa cạnh giếng, anh ta hỏi lớn:
- Cho phép tôi lấy nước cho ngựa nhé?
Dù nghĩ gì về chủ nó, tôi và Rắc Rối cũng
chẳng nên hiềm khích.
- Vâng, tất nhiên rồi.
Traft bơm nước vào máng:
- Thời tiết thế này, cái gì cũng phải khô
ghê gớm (anh ta đẩy cái mũ ra sau đầu). Khô phát sợ.
- Vâng.
Chẳng phải vì thế mà tôi cũng lo đến không
thể chợp mắt đó sao? Khi nông sản chất đống ngoài ruộng chờ khô, người ta không
thể không lo công sức bấy lâu của mình sẽ bị kẻ xấu thiêu ra tro.
- Cô định tuốt lúa sớm chứ?
- Vài ngày nữa.
Traft gật gù:
- Nghe nói Glendive mất mùa.
Tôi có thể đoán câu chuyện sẽ đi đến đâu:
- Glendive khác.
Anh ta cười gượng:
- Ở đây khác, đúng không?
Giờ tôi mới gật đầu. Traft vuốt mồ hôi
ngang trán, chỉnh lại mũ cho ngay ngắn:
- Vẫn chưa muộn đâu, cô ạ.
Tôi máy móc lặp lại:
- Chưa muộn? Để làm gì mới được?
Anh ta hứng cái ca vào miệng vòi bơm:
- Tính đến đề nghị của tôi.
Sao anh ta lại đem chuyện này ra bàn nhỉ?
Tôi cố giữ cái giọng thản nhiên:
- Tôi không quan tâm. Lần cuối cùng tôi xin
nói rõ: Tôi không chấp nhận đề nghị của anh.
Màu mắt xanh lá cây của Traft biến thành
màu xám:
- Sai lầm lớn đấy, thưa cô.
Tôi đáp lại cái nhìn của anh ta bằng ánh mắt
dữ dội không kém. Tôi không còn lạ gì cảm giác đối đầu với kẻ chuyên đi bắt nạt.
- Có thể. Nhưng tôi có quyền quyết định việc
mình làm.
Traft giật mạnh dây cương:
- Vậy cô hãy nghĩ cho kỹ.
Anh ta cưỡi ngựa rời sân nhà tôi. Sân nhà của
tôi.
Vâng, chỉ lúc này, nó vẫn là của tôi.
*
* *
Sau khi Traft ghé hai ngày, anh Karl và vài
người hàng xóm kéo sang nhà tôi tuốt lúa. Buổi sáng, tôi làm việc cùng nhóm đàn
ông ngoài đồng. Sau đó, cô Leafie và chị Perilee sang giúp tôi nướng bánh chuẩn
bị bữa trưa. Chắc chị Perilee có hứa sẽ làm bánh có nho khô, anh đào dại và mận
nên cả đội mới làm hăng thế. Nhưng bánh bích qui của tôi cũng không tầm thường:
Anh Karl ăn đến sáu bảy cái cơ mà.
Chị Perilee trêu:
- Cưng ơi, sở dĩ Karl ăn nhiều bánh thế là
do mứt anh đào của Leafie đấy.
Ba bà nội trợ chúng tôi đứng rửa một đống
bát đĩa cao ngất, còn bọn trẻ chạy đùa quẩn quanh chân. Chase đứng ngồi không
yên. Mới lên tám mà cậu đã cho rằng mình đủ lớn để giúp tuốt lúa ngoài đồng. Chị
Perilee giậm chân:
- Không mè nheo nữa. Máy móc đâu phải chỗ
chơi của trẻ con.
Chase đành bằng lòng với nhiệm vụ mang nước
mát ra đồng cho thợ. Cậu bé xách nước đựng trong hũ sành bọc bằng vải bao tải rồi
giấu vào đống lúa cho mát. Chase đánh dấu đống lúa có nước bằng một bó lúa đặt
xéo trên cùng để đám thợ dễ tìm. Có một lần, sau khi cậu bé ra tiếp nước ngoài
đồng, tôi thấy có bóng người nhỏ xíu đứng trên máy tuốt lúa cùng anh Karl. Tôi
giấu nhẹm, không kể một lời với mẹ nó.
Chị Perilee ngồi xuống, nâng gấu tạp dề quạt
quạt cho mát:
- Nghỉ tay một chút rồi làm tiếp. Vả lại,
Lottie cũng đói rồi.
- Phải đấy. Nóng như lò bánh mì.
Tôi rót nước chanh cho cả ba rồi ngồi xuống
nghỉ. Cô Leafie cởi giày, cởi cả tất. Tôi cũng làm theo. Chị Perilee nhíu mày:
- Hội Hỗ Trợ Phụ Nữ mà thấy, họ sẽ làm gì
đây?
Sau đó, chị cũng tháo luôn giày tất, ngọ
nguậy mấy đầu ngón chân:
- Mặc kệ. Thế này mới thích.
Chúng tôi lặng lẽ ngồi bên nhau. Âm thanh
duy nhất là tiếng chim dẽ kêu và tiếng bé Lottie bú mẹ nhóp nhép.
Cô Leafie gợi chuyện:
- Hôm kia có thấy Traft Martin cưỡi ngựa đi
về hướng này.
Chị Perilee chuyển Lottie sang bầu sữa bên
kia:
- Ít nhất lần này hắn cũng không động đến
hàng rào nhà em.
Tôi áp ly nước mát vào cổ:
- Mấy tuần trước, anh ta cũng ghé nhà cháu.
Không phải để nói chuyện xã giao.
Cô Leafie hỏi:
- Hắn định mua trang trại của cháu chứ gì?
Hồi đó, hắn còn cả gan hỏi mua đất nhà cô.
Tôi gật đầu:
- Traft muốn trang trại Tripped M lớn hơn cả
trại nuôi gia súc Circle nữa kìa.
Cô Leafie thở dài sườn sượt:
- Thế cháu trả lời sao?
Tôi giơ hai bàn tay ra. Hai bàn tay sưng
lên vì nóng, khô ráp vì liên tục tiếp xúc với nước và chai sần vì công việc nặng
nhọc.
- Cháu bảo cuộc sống ở đây quyến rũ nhường
này, làm sao bỏ được.
Chị Perilee bật cười:
- Con bé này đáo để thật.
Cô Leafie nghiêm mặt:
- Cháu phải cẩn thận đấy. Cô từ chối thẳng
thừng được. Thằng đó không dám lộn xộn với cô. Nhưng...
- Cháu biết, cháu biết chứ.
Tôi giơ tay ngăn cô tiếp thêm lời cho trí
tưởng tượng vốn đã phong phú của tôi. Tôi biết khi tức tối, Traft không từ thủ
đoạn nào.
- Cháu sẽ cố trì hoãn đến tháng Mười một.
Chị Perilee bảo:
- Từ nay đến lúc ấy, nếu có chuyện gì, cứ
báo chị một tiếng.
Cô Leafie bảo:
- Cả cô nữa. (Chợt cô ngẩng nhìn lên trời).
Chúa ơi! Nhìn kìa.
Những đám mây đen nhanh chóng bao phủ đồng
cỏ. Tôi nhớ chuyện nói với Traft lúc trước. Tim tôi nhảy lên như muốn chặn
ngang cổ:
- Không phải châu chấu đấy chứ?
Cô Leafie vụt đứng lên:
- Chắc không phải đâu.
Perilee đứng phắt dậy, vơ vén đồ đạc:
- Mưa! Mang đồ vào đi thôi. Mattie đâu? (Chị
phất mạnh tạp dề). Đưa Fern về nhà ngay.
Ba chúng tôi quơ quào mọi thứ, dắt bọn trẻ,
trừ Chase, vào lều trước khi trời đổ mưa.
- Không phải mưa.
Tôi tựa trán vào khung cửa. Với từng ấy người
ướt rượt mồ hôi, căn phòng ngột ngạt không khác ngày nấu quần áo. Cô Leafie ôm
ngực:
- Lạy Chúa! Mưa đá.
Những viên nước đá to bằng hạt đậu nhanh
chóng biến thành những hòn đá to bằng quả trứng. Chị Perilee lao ra, giật tung
cánh cửa, miệng gọi lớn:
- Chase!
Cô Leafie kéo chị trở vào:
- Đừng lo cuống lên thế. Karl và mọi người
biết tìm chỗ núp. Karl không đời nào để thằng bé xảy ra chuyện.
Ông trời nhanh tay ném cả đống đá xuống ruộng
của tôi. Như cầu thủ ném bóng chày đang cơn thịnh nộ thẳng tay ném hết trái
bóng này đến trái bóng khác, cao xanh vùi dập tôi tơi bời. Đầu tiên là đám lanh
đã cắt, bó gọn ghẽ rồi xếp thành hàng, rã ra. Sau đến đám lúa bị ép chặt xuống
đất như vừa bị người khổng lồ dẫm lên. Cứ thế, gã khổng lồ dẫm nát bao ước mơ của
tôi. Tôi không biết làm gì hơn, đành để mặc trái tim vỡ vụn. Sau quãng thời
gian tưởng như dài vô tận, tiếng lộp độp trên mái nhà thưa dần. Cô Leafie bảo:
- Hình như tạnh rồi đấy.
Cửa bật mở. Anh Karl, Wayne Robbins và
Chase lao vào:
- Anh Karl!
Chị Perilee vội chạy đến bên chồng. Máu chảy
ròng ròng trên trán anh. Anh Wayne cáu tiết:
- Mấy cục nước đá chết tiệt to bằng quả
cam, cứng như than đá mới khiếp chứ.
Trong lúc chị Perilee chăm sóc anh Karl,
tôi vội đi pha trà. Tôi đưa cho Chase một ly:
- Trà đường ngon lắm đấy. Uống cho tỉnh người
em ạ.
Trà nóng làm cho cậu bé đang lạnh cóng này ấm
hơn, nhưng còn tôi? Ai giúp được tôi đây?
Chase run rẩy đưa ly trà lên môi:
- Dượng Karl đẩy em vào gầm máy kéo. Ở
ngoài, dượng và chú Wayne đành ôm đầu chịu trận.
Bầu không khí im lặng đến đáng sợ không kém
tiếng mưa đá rơi thì thụp khi nãy. Tôi nhìn cánh đồng qua cánh cửa mở rộng. Rau
ngoài vườn dập nát, ngả nghiêng. Một góc mái chuồng gà đổ nghiêng ngả cạnh cần
bơm nước ngoài giếng. Albert cùng mấy nàng gà mái ướt sũng, chúi đầu trong góc
chuồng. Cây hướng dương bấy lâu nay tôi nâng niu như trứng mỏng giờ gẫy gập. Những
cánh hoa vàng rực rỡ bị vùi xuống đất bùn.
Tôi lê bước qua ngưỡng cửa, tới cánh đồng.
Wayne Robbins đi theo, lắc đầu ngán ngẩm.
Lúc chúng tôi cân nhắc hậu quả, anh bảo:
- Bố anh bảo mưa đá là thần chết trắng.
Hattie này, lanh coi như mất hết. Nhưng lúa mì còn vớt vát được chút đỉnh. (Giọng
anh nhỏ dần, như thể câu cuối cùng cũng khó lòng thuyết phục được anh). Bán đi
làm thức ăn gia súc, em ạ.
- Cho bò ăn ư?
Suốt mấy tháng qua, tôi chỉ tính đến việc
bán nông sản cho chủ tiệm xay xát theo giá lúa mì thương phẩm, không phải bán
cho nông dân dư tiền mua về làm thức ăn cho bò ngựa.
- Hattie à, đâu chỉ mình em mất mùa.
Rõ ràng, anh Wayne muốn an ủi, nhưng nghe
anh nói, tôi đâm lo. Trận mưa đá này còn phá hủy bao nhiêu cánh đồng khác nữa?
Có dễ hàng chục người quanh đây đang cố vớt vát từ vụ mùa này. Còn nữa, nông dần
muốn bỏ tiền mua thóc đãi bò ngựa liệu có được mấy người? Chắc người mua thì
ít, người bán thì nhiều. Hai mắt cay xè, nước mắt chực trào ra nhưng tôi nhất định
nuốt dòng lệ đắng vào trong. Khóc lóc bây giờ phỏng có ích gì?
Tôi nhanh chóng định thần cùng mọi người
lao vào cứu lúa. Anh Karl điều khiển Joey, Star, Sage và Plug khó nhọc kéo xe
thường chở cỏ khô trên cánh đồng tiêu điều vì thiên tai. Chỉ còn đống lúa mì nhỏ
nằm ở góc ruộng xa nhất thoát được trận mưa vừa rồi. Anh Wayne, Chase và tôi
dùng chạc ba hất đống lúa ấy lên xe. Cả đống lúa không chất đầy một xe như thế.
Cô Leafie nhẫn nại nhặt từng bó lúa nhỏ bỏ vào máy tuốt lúa. Tôi đã sắp sẵn một
đống bao tải chất ngất, hy vọng sẽ dùng
hết vào việc chứa lúa thành phẩm. Anh Karl bảo, bình thường phải cần đến ba người
trần lưng đóng gói mới theo kịp máy. Họ chỉ khâu đúng bảy mũi trên miệng bao tải
trước khi quẳng lên thùng xe, rồi quay sang đón bao khác. Còn hôm nay, nhờ Thần
Chết Trắng nên chỉ cần mình anh Wayne cũng dư sức làm.
Sau này tôi có viết thư gửi Charlie:
“Chiều
ấy, khi cảm ơn bà con xóm giềng, em cảm tưởng mình đang đi đưa đám. Mà đúng thế
thật. Tang lễ giấc mơ của em đấy. Em bàng hoàng, không thể tin thành quả của
bao tháng ngày vất vả bị hủy hoại chỉ trong vài phút đồng hồ.”
Viết thư xong, tôi giở sổ ghi chép cho
tháng này. Hôm kia, khi niềm hy vọng về vụ mùa phơi phới trong lòng, tôi đã quá
tự mãn với Traft. Giờ tôi ngồi đây, loay hoay tính toán mọi đường. Dù tính cách
nào, tiền nợ vẫn nhiều hơn doanh số. Dù có tiền nhuận bút, tôi vẫn sa lầy. Biết
lấy đâu ra tiền trả công buộc lúa, tuốt lúa đây? Khoản nợ hàng rào chỗ ông
Nefzger biết tính sao đây? Còn tiền mua hạt giống nữa? Điểm sáng duy nhất giữa
đống ngổn ngang là tôi được miễn 100 đô la tiền tem ủng hộ tiền tuyến. Nhưng khốn
nỗi nó chỉ khiến tôi xấu hổ, chứ không nhẹ nhõm như nhiều người khác.
Tôi tự đãi mình một ly trà. Chắc chắn
“ngài” Whiskers phải biết tinh thần tôi xuống thấp cỡ nào. Nó nhảy lên lòng
tôi, kêu rừ rừ như muốn an ủi, động viên.
Tôi rà lại sổ sách lần cuối: “Ngoài Traft ra, vẫn còn một lối thoát”.
Tôi gãi nhẹ sau tai con mèo. Sau đó, tôi cầu nguyện. Xong, tôi quay sang may
chăn. Rồi cầu nguyện lần nữa. Vậy mà chẳng thấy linh ứng gì cả.
Dù muốn buông xuôi, vùi mình khóc cho thỏa,
tôi vẫn không thể làm thế. Tôi làm việc nhà, cố xới xáo mảnh vườn nhỏ cây cối
đang rũ rượi, quét dọn chuồng gà, đặt nồi đậu lên bếp hầm nhừ cho bữa tối. Khi
dọn phân trong chuồng ngựa, tôi thấy cái rương của cậu Chester. Đặt cây chạc ba
xuống, tôi quỳ bên rương, vuốt ve dòng chữ dập nổi trên nắp. Tôi cúi xuống, áp
má lên nắp rương, mong có một tình cảm an ủi nào đó làm dịu lòng tôi lúc này.
Nhớ lúc trước, cậu Chester tin tưởng tôi biết
bao. Bản thân tôi cũng tin vào chính mình.
Tôi mân mê khóa rương:
- Cháu phải là gì bây giờ? Bán đất cho
Traft, cháu buồn, cậu cũng chẳng vui đâu.
Chùi nước mắt, tôi ngồi thẳng, mở nắp
rương. Biết đâu lần đầu lục tìm, tôi bỏ qua thứ gì đó bên trong. Biết đâu có một
cuộn tiền trong lớp vải lót rương dành cho tôi chi dùng lúc khốn khó. Chẳng phải
cậu Chester tự nhận mình là du thủ du thực đó sao? Mà phàm là thân du thủ du thực
thì hay giấu của phi pháp lắm.
Lần này, tôi xem xét kỹ từng xăng ti mét mặt
trong của rương lẫn đồ đạc trong đó. Tôi lấy từng thứ ra ngoài, bày la liệt
ngay bên cạnh. Khi dọn hết những gì có trong rương ra ngoài, tôi vuốt lớp vải
lót rương, mong tìm được điều bí ẩn giấu bên trong.
Trong rương không hề có ngăn phụ hay của cải
bí mật.
Biết hy vọng thế là rất ngớ ngẩn, nhưng khi
tuyệt vọng người ta có thể tin bất cứ thứ gì. Tôi nhẹ tay xếp trả đồ đạc vào
rương. Khi đặt cuốn Người Mohican Cuối
Cùng vào trong, tôi thấy có cái gì đó lấp ló giữa tập sách. Tôi chợt mừng
thầm. Tôi mở sách ra.
- Ôi!
Tôi ngồi hẳn xuống, nhìn trân trân vào tấm ảnh
trong tay mình. Trong ảnh có mẹ và bố tôi.
Mẹ ôm một đứa trẻ trong lòng: chính tôi đấy.
Một người nữa đứng sau lưng mẹ. Tôi xoay mặt sau tấm ảnh thấy dòng chữ: Tôi, Katherine và Raymond cùng bé Hattie,
tháng Giêng năm 1902. Tôi nhìn kỹ khuôn mặt em bé mới ba tháng tuổi trong ảnh.
Tràn trề hy vọng, thật dễ thương và hạnh phúc làm sao.
Kế đến, tôi như bị hút hồn vào khuôn mặt
cha mẹ mình. Tôi gần như nghe được tiếng mẹ hát ru, cảm giác được bộ râu của
quai nón của cha chạm nhẹ vào má nghe buồn buồn. Tôi áp môi vào tấm hình và cứ
giữ nguyên thế trong giây lát.
Rồi tôi ngắm người còn lại. Những dòng viết
phía sau tấm hình cho tôi biết danh tính người đó: Cậu Chester.
Tôi ngắm kỹ khuôn mặt ông. Trên đó có mang
chút dấu vết nào của sự thất vọng? Hay trách móc? Không! Chỉ có nụ cười ấm áp,
đầy khích lệ. Có thể nói là đầy cảm thông nữa. Tôi cẩn thận kẹp tấm hình vào
sách. Những món đồ còn lại cũng được trả vào rương. Tôi đóng nắp rương, cài
khóa vào cẩn thận, đoạn thì thầm:
- Cháu cảm ơn cậu.
Trong một ngày buồn bã nhất như hôm nay, tấm
ảnh kia chẳng khác nào món quà quý giá cậu ruột tặng tôi.
Tôi chỉ ước sao mình biết được món quà ấy
có ý nghĩa đến thế nào với cuộc đời mình.
-----------
Còn tiếp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét