Thứ Ba, 22 tháng 8, 2017

Mùi Hương - Patrick Süskind (Chương 36 - 40)

Patrick Süskind

Mùi Hương

Lê Chu Cầu dịch
NXB Văn học - 2016

36

Grenouille tìm thấy trên Rue de la Louve, không xa Porte des Fénéants, một xưởng nhỏ làm nước hoa và xin vào làm.
Được biết là ông chủ, Maitre parfumeur Honoré Arnulfi đã chết vào mùa đông vừa rồi, còn lại một mình bà vợ góa tóc đen, nhanh nhẩu, chừng ba mươi tuổi, tiếp tục việc kinh doanh với sự giúp đỡ của một người thợ phụ.
Sau khi đã than thở chán chê về thời buổi khó khăn và tình trạng kinh tế bấp bênh, Madame Arnulfi cho biết lẽ ra bà không đủ điều kiện thuê thêm một thợ phụ nữa, mặt khác lại rất cần thiết cho những việc sắp tới, nhà bà không thể chứa thêm được một người nữa, tuy vậy bà có cái chòi nhỏ nằm trong vườn ô liu đàng sau tu viện dòng Franciscain, cách đây chưa đến mười lăm phút, có thể để cho một người dễ tính ngủ tạm. Ngoài ra, là một bà chủ thành thật, bà biết rõ trách nhiệm phải lo cho thợ ăn uống đàng hoàng nhưng mặt khác bà không đủ khả năng bảo đảm ngày đủ hai bữa ăn nóng được, nói gọn lại, Madame Arnulfi là một người phụ nữ có của và có đầu óc kinh doanh. Grenouille đã ngửi thấy cả từ lâu rồi. Bởi vì tiền đối với gã không phải là điều chính yếu nên gã bằng lòng với tiền công hai quan một tuần cùng với những điều kiện ít ỏi khác mà hai bên thỏa thuận nhanh chóng. Tay thợ phụ kia được gọi đến, đó là một gã đàn ông khổng lồ tên Druot và Grenouille đoán ngay ra rằng hắn thường chung chăn gối với bà chủ và bà ta không quyết định một số chuyện nào đấy nếu không thảo luận trước với hắn. Hắn đứng trước mặt Grenouille khiến gã trông lại càng nhỏ đến độ khôi hài, hắn dạng chân làm xông ra một đám mây sặc mùi tinh dịch,  nhìn gã soi mói, nhìn xoáy vào mắt gã như để tìm ra bằng cách ấy những âm mưu xảo trá hay biết đâu một tình địch, rồi nhếch mép cười khinh thị, gật đầu tỏ ra đồng ý.
Mọi chuyện như thế là xong. Grenouille nhận được một cái bắt tay, một bữa ăn nguội cho buổi chiều, một cái chăn và chìa khóa của cái chòi; gã ra sức sắp xếp lại cái chòi không cửa sổ đậm mùi dễ chịu của phân cừu để lâu và cỏ khô. Hôm sau gã bắt đầu làm việc cho Madame Arnulfi.
Lúc này đang mùa thủy tiên. Madame Arnulfi cho trồng hoa trên những thưở đất nhỏ riêng của bà trong cái lòng chảo phía dưới thành phố hoặc mua lại từng lố [1 lố khoảng 17g] của nông dân mà bà cò kè từng nửa xu một. Hoa đã được đem đến xưởng bằng giỏ từ sáng sớm tinh mơ, đổ thành đống hàng chục nghìn cái hoa thơm mà nhẹ bẫng này. Trong khi đó Druot hâm lỏng mỡ heo và mỡ bò thành một thứ nước lỏng sền sệt trong một cái nồi to tướng, rồi trong lúc Grenouille không ngừng quấy đều bằng một cái khuấy dài như cái chổi thì hắn không ngừng đổ hoa vào đấy. Hoa nổi chừng một giây trên mặt nồi, trông như những con mắt trợn trừng kinh hoàng chờ chết, rồi tái lại khi bị cây khuấy khoắng xuống dưới và bị mỡ ấm bọc lại. Gần như ngay lúc ấy chúng nhũn ra, héo đi và chắc cái chết đến với chúng khá nhanh nên chúng không có lựa chọn nào khác hơn là trút hơi thở dài thơm tho cuối cùng của chúng vào chính cái môi trường làm cho chúng chết đuối, bởi vì Grenouille càng xoáy xuống nhiều hoa bao nhiêu thì mỡ càng thơm bấy nhiêu, gã quan sát điều này với một sự thích thú không sao tả được. Không phải những hoa chết tiếp tục tỏa hương trong mỡ mà chính mỡ đã chiếm đoạt mùi hương của hoa.
Thỉnh thoảng nước mỡ trở nên quá đặc, họ phải đổ gấp vào một cái rây lớn, lấy ra những xác hoa không hồn, thay hoa tươi vào đấy. Rồi lại đổ hoa vào, lại khuấy, lại rây; suốt ngày như thế không nghỉ vì công việc không cho phép chậm trễ, cho đến khi xẩm tối khi tất cả đống hoa đã vào nồi. Bã hoa không bỏ đi vì không có gì bỏ phí cả. Chúng được tưới nước sôi rồi cho vào máy ép, vắt đến giọt cuối cùng, cũng được một thứ dầu thơm nhè nhẹ. Nhưng phần lớn mùi thơm, cái hồn của cả một biển hoa, nằm lại trong nồi, bị bọc kín và bảo quản trong cái khối mỡ trắng xám trông chẳng đẹp mắt tí nào đang từ từ đặc lại.
Hôm sau cái quy trình được gọi là ngâm bấy này lại tiếp tục; lại hâm nồi lên, mỡ chảy ra và lại cho hoa vào. Nhiều ngày liền như thế, từ sáng đến tối. Công việc rất mệt nhọc. Tối đến khi Grenouille lảo đảo bước về lều thì tay gã như thể đeo chì, hai bàn tay rộp lên còn lưng thì đau như dần. Druot khỏe chắc gấp ba gã nhưng không khuấy hộ lần nào, chỉ lo đổ hoa nhẹ như bông vào nồi, canh chừng lửa và thỉnh thoảng chạy đi làm một ly gì đó giải khát. Nhưng Grenouille không hề phàn nàn, gã khuấy từ sáng đến tối, không chút than phiền và cũng không thấy cực tí nào vì cái quy trình diễn ra trước mắt và mũi không ngừng quyến rũ gã: sự tàn lụi mau chóng của hoa và sự hấp thụ mùi thơm của mỡ.
Sau một thời gian, Madame Arnulfi nói rằng mỡ bão hòa rồi, không thể tiếp tục hấp thụ mùi thơm được nữa. Họ tắt lửa, rây cái nước đặc sệt lần chót rồi rót vào những lọ sành; nước đặc lại rất nhanh thành pomát thơm tuyệt.
Bây giờ tới lúc Madame Arnulfi trổ tài; bà tới kiểm nghiệm cái sản phẩm quý giá kia, dán nhãn rồi ghi thật chính xác vào sổ sách thu hoạch theo phẩm chất và số lượng. Sau khi tự tay nút kín những lọ sành, gắn miệng lọ lại và đem cất dưới hầm lạnh, bà mới mặc đồ đen, đeo khăn tang và đi một vòng đến các nhà bán sỉ và các nhà buôn nước hoa trong thành phố. Bà trình bày hoàn cảnh đơn chiếc của mình với các nhà buôn bằng một giọng nao lòng, để rồi được họ đề nghị giá, rồi bà so sánh, rồi thở dài bằng lòng bán hoặc không. Hương thơm dưới dạng pomát để lạnh giữ được lâu. Nếu bây giờ chưa được giá thì biết đâu mùa đông, mùa xuân tới giá lại chẳng lên. Thay vì bán cho bọn cò kè này tại sao không cân nhắc có nên cùng với những nhà sản xuất nhỏ khác gửi một chuyến tàu chở pomát đi Genua hay chung nhau một đoàn xe đi dự hội chợ mùa thu ở Beaucaire,  vẫn biết là mạo hiểm đấy nhưng nếu trúng thì lời lắm. Madame Arnulfi cân nhắc kỹ càng những khả năng trên, có khi phối hợp chúng với nhau, rồi bán một phần, phần còn lại bà thử thời vận. nếu qua thăm dò mà nhận thấy thị trường tràn ngập pomát và trước mắt không khan hiếm, nghĩa là bà chẳng được lợi lộc gì thì bà sẽ chạy về nhà gấp đến bay cả khăn tang và bảo Druot đem rửa hết chỗ pomát với cồn, biến chúng thành essence absolue.
Thế là pomát lại được khuân từ dưới hầm lên để rửa bằng cách hâm nóng thật cẩn thận trong nồi đậy kín, cho thêm vào rượu tinh cất loại nhất rồi trộn thật kỹ với một đồ khuấy gắn sẵn trong thùng do Grenouille sử dụng. Sau khi mang xuống hầm, dung dịch nọ nguội thật nhanh, mỡ đông lại tách khỏi rượu, rượu được chắt vào chai. Nó gần như là một loại nước hoa nhưng hết sức đậm trong khi bã còn lại của pomát còn trong nồi đã bị mất phần lớn các mùi thơm. Mùi thơm của hoa thế là được chuyển sang một môi trường khác. Chưa hết. Sau khi lọc cẩn thận với khăn the để giữ lại hết mỡ, kể cả những cục nhỏ nhất, Druot chuyển rượu sang một nồi chưng nhỏ, chưng thật chậm trên lửa liu riu. Sau khi cồn bay hết, trong bình  cổ cong chỉ còn lại một chút chất lỏng màu tái mà Grenouille quá quen thuộc nhưng chưa từng được ngửi dưới dạng tuyệt hảo và nguyên chất thế này: dầu của hoa, cái mùi thơm không còn bị gì che đậy, trăm nghìn lần đậm đặc để trở thành ít giọt essence absolue. Mùi của tinh dầu này không còn dễ chịu nữa. Nó nồng, hăng xóc óc. Nhưng chỉ cần một giọt thôi, hòa trong một lít cồn, thì mùi thơm của hoa sẽ sống dậy, mùi thơm của cả một cánh đồng hoa.
Được rất ít. Chỗ chất lỏng trong bình chưng cất kia chỉ vừa ba lọ con. Mùi thơm của cả hơn trăm nghìn hoa thu lại không hơn ba lọ con. Nhưng đó là cả một gia tài, ngay cả ở Grasse này. Khi được gửi đi Paris, Lyon hay Grenoble, Genua hoặc Marseille thì còn biết mấy lần hơn! Mắt madame Arnulfi nhòa đi khi nhìn thấy những lọ con ấy, bà vuốt ve chúng bằng mắt và khi cầm lên để nút lại bằng nút thủy tinh mài vừa vặn thì bà nín thở để không một chút gì của cái chất quý báu kia bị thổi mất. Sau khi nút lại, bà lấy sáp lỏng gắn nút cho kín rồi chụp lên bằng một bong bóng cá, cột thật chặt chỗ cổ lọ để không thể một nguyên tử mùi thơm nào còn thoát đi được. Rồi bà đặt chúng trong hộp con lót bông, đem xuống hầm, khóa kỹ.

37

Tháng Tư họ ngâm bấy kim tước chi và hoa cam, tháng năm ngâm cả một biển hoa hồng đến nỗi thành phố như chìm suốt một tháng trong một màn sương vô hình ngọt ngào mùi thơm. Grenouille làm việc như ngựa. Gã cam chịu làm mọi công việc tầm thường mà Druot giao cho với một sự sẵn sàng gần như nô lệ. Nhưng trong những lúc gã ra vẻ khờ khạo khuấy, quét, lau rửa bồn, quét chùi xưởng và khuân củi thì không một khâu quan trọng nào, không một chút gì trong sự biến thái của mùi thơm lọt khỏi sự chú ý của gã. Với cái mũi, Grenouille theo dõi và trông chừng sự chuyển mùi từ những cánh hoa sang mỡ, rồi cồn cho đến khi đóng vào các lọ còn chính xác hơn cả Druot nữa. Trước khi Druot kịp nhận ra thì gã đã ngửi thấy lúc nào mỡ quá nóng, lúc nào hoa đã bị rút kiệt, lúc nào chất lỏng đã bão hòa mùi thơm, gã ngửi thấy cái gì đang diễn biến bên trong bình trộn cũng như lúc nào ngưng quy trình chưng cất là đúng nhất. Thỉnh thoảng gã cũng góp ý nhưng dĩ nhiên là không khẳng định mà vẫn giữ cung cách người dưới. Chẳng hạn như nói rằng gã thấy có vẻ như mỡ hơi quá nóng chăng hoặc gã nghĩ rằng có thể rây được rồi đấy, hoặc gã có cảm tưởng là cồn đang bay hơi trong bình chưng cất… Druot tuy không thông minh gì lắm nhưng cũng không phải hoàn toàn ngu đần, dần dần nhận ra rằng hoặc tự hắn làm hoặc để làm theo cái điều mà Grenouille “nghĩ rằng” hay “có cảm tưởng” sẽ có kết quả tốt nhất. Bởi vì Grenouille không bao giờ nói ra điều gã “nghĩ rằng” hay “có cảm tưởng rằng” một cách ta đây hay tự phụ, cũng không bao giờ coi thường, dù chỉ mỉa mai, uy thế của Druot cũng như địa vị một thợ cả trội hơn của hắn, nhất là khi có mặt Madame Arnulfi nên Druot thấy không có lý do gì không nghe theo những góp ý của Grenouille, dần dà để mặc cho gã quyết định.
Thế là Grenouille không những chỉ khuấy mà còn thường xuyên hơn đổ hoa vào nồi, đốt nóng và rây; trong khi Druot biến sang quán Quatre Dauphins làm một ly vang hay lên chỗ Madame xem có cần gì không. Hắn biết có thể tin cậy Grenouille được. Còn Grenouille tuy phải làm việc gấp đôi nhưng thích thú vì được làm một mình để học hỏi nghệ thuật mới một cách hoàn hảo và đôi khi được làm dăm ba thí nghiệm nho nhỏ. Gã vui sướng ngấm ngầm khi nghiệm ra rằng pomát của gã tốt hơn hẳn pomát làm chung với Druot, Essence absolue của gã cũng tinh hơn một cấp.
Cuối tháng bảy bắt đầu mùa hoa nhài, tháng tám mùa hoa nguyệt hạ hương. Hai hương thơm hai thứ hoa này tuyệt diệu nhưng đồng thời thuộc loại khó tính, không những phải hái chúng trước khi mặt trời mọc mà cách chế biến chúng cũng phải hết sức đặc biệt và gượng nhẹ. Nóng làm giảm mùi thơm của chúng, nhúng thình lình trong mỡ nóng như ngâm bấy sẽ làm giảm mùi thơm của chúng. Hai thứ hoa quý phái trong các loại hoa này không dễ để cho rút hồn của chúng, chúng thật sự phải được mơn trớn. Phải rải chúng lên những tấm kính bôi mỡ lạnh hay ủ chúng trong những gói khăn cột lỏng tẩm dầu, đặt trong một phòng lấy hương đặc biệt, để chúng chết từ từ trong giấc ngủ. Ba bốn ngày sau thì chúng héo, chúng đã phả mùi thơm vào trong lớp mỡ hay dầu. Rồi người ta cẩn thận nhặt xác chúng, rải một đợt mới. Mười, hai mươi lần như thế cho đến khi mỡ bão hòa mùi thơm, bấy giờ mỡ trong khăn có thể đem đi ép được rồi, lúc ấy cũng vừa sang tháng chín, thu hoạch ít đi nhiều, so với cách ngâm bấy. Nhưng trong nghệ thuật làm nước hoa, phẩm chất của keo hoa nhài hay của huile antique de tubéreuse [dầu hoa nguyệt hạ hương kinh điển] qua phương pháp enfleurage lạnh vượt hẳn mọi sản phẩm khác về độ tinh chất và độ trung thực. Đặc biệt đối với hoa nhài thì có vẻ như cái mùi thơm ngọt, gợi tình của hoa đã in hình lên tấm kính bôi mỡ như trên một tấm gương để được phản chiếu lại hoàn toàn như thật, dĩ nhiên cum grano salis [đừng hiểu theo nghĩa hẹp (tiếng La tinh)]. Bởi vì tất nhiên cái mũi của Grenouille nhận ra sự khác biệt giữa mùi gốc của hoa khi nguyên vẹn, và mùi ảnh, tức là mùi thơm đã được tách ra này; mỡ dù sạch đến đâu thì mùi mỡ như một tấm khăn mỏng phủ lên cái mùi ảnh, làm cho nó dịu đi, làm cho nó yếu hẳn đi một cách nhẹ nhàng. Có thể nhờ thế mà người bình thường mới chịu nổi chăng… Dù sao phương pháp enfleurage lạnh là cách hay nhất, hiệu quả nhất để lấy được những mùi thơm mảnh dẻ. Dù cho phương pháp này chưa đủ để làm cho cái mũi Grenouille được hoàn toàn hài lòng thì gã vẫn biết rằng nó thừa đủ để phỉnh gạt cả một thế giới những cái mũi thô lậu.
Chẳng bao lâu gã qua mặt cả sư phụ Druot về ngâm bấy lẫn enfleurage lạnh, vẫn bằng cái cách hạ mình kín đáo rất thành công gã làm cho tay kia thấy rõ điều ấy. Druot sẵn sàng để cho gã đi đến lò mổ mua loại mỡ thích hợp nhất để đem về rửa, thắng, lọc và định tỷ lệ thích hợp vì đây là một công việc khó và đáng sợ nhất đối với hắn, mỡ không được sạch, ôi hay nặng mùi lợn hay cừu hoặc bò có thể làm vứt đi cái pomát quý báu. Hắn để cho gã định khoảng cách giữa những tấm kính trong phòng lấy hương, thời điểm thay hoa mới, độ bão hòa của pomát, rồi đến cả những quyết định quan trọng mà hắn thường chỉ có thể tính toán một cách gần đúng dựa theo những quy tắc đã học, giống như Baldini lúc trước, hắn cũng giao cho gã luôn, nhưng Grenouille lại làm theo sự hiểu biết của mũi gã, tất nhiên Druot không thể nào ngờ được điều này.
- Gã có hoa tay, - Druot nói - gã nhậy với mấy chuyện này.
Đôi khi hắn cũng nghĩ “Gã có khiếu hơn mình nhiều, gã là một tay chế nước hoa giỏi hơn mình cả trăm lần”. Nhưng đồng thời lại cho gã là một thằng thậm ngu vì tin rằng Grenouille chẳng biết kiếm chác gì qua cái tài của gã trong khi hắn sắp thành nhà chế nước hoa, trong khi năng lực chỉ vừa phải. Grenouille còn làm cho hắn tin đã nghĩ đúng bằng cách chăm chỉ nhưng ngu ngốc, không có lấy một chút tham vọng nào, làm như không biết chút gì về thiên tài của gã mà chỉ toàn thực hiện những lời chỉ dẫn của một Druot nhiều kinh nghiệm hơn, rằng không có hắn thì gã chẳng làm nên trò trống gì. Nhờ thế mà họ làm việc với nhau được.
Sau mùa thu đến mùa đông, trong xưởng yên tĩnh hẳn. Chất thơm của hoa nằm trong các bình sành hay lọ con giữ kín trong hầm, nếu bà chủ không bảo rửa loại pomát này hay nọ hoặc chưng cất một bịch gia vị khô nào đấy thì chẳng có gì nhiều để làm cả. Vẫn còn nhiều ô liu, vài giỏ đầy mỗi tuần. Họ ép lấy dầu nhất, còn bã cho vào máy nghiền lấy dầu thứ cấp. Còn cả rượu vang mà Grenouille lấy một phần để chưng cất và làm tinh rượu.
Druot ngày một ít ló mặt hơn. Hắn phải làm bổn phận gối chăn với bà chủ và khi hắn chường mặt ra, hôi rình mùi mồ hôi và tinh dịch, thì cũng để chuồn lẹ qua quán Quatre Dauphins. Bà chủ cũng ít xuống xưởng. Bà bận rộn với việc quản lý tài sản và sửa quần áo để dùng sau khi mãn tang. Thường thì cả ngày Grenouille không gặp ai ngoài cô người làm, trưa đến cho gã xúp còn tối bánh mì với ô liu. Gã không hề đi ra ngoài. Những sinh hoạt phường hội, chẳng hạn như các buổi gặp gỡ thường xuyên của thợ với nhau hay các lần diễu hành vui chơi, gã chỉ tham dự vừa đủ để không bị chú ý do vắng hay có mặt. Gã không có bạn hay người quen thân, nhưng hết sức giữ ý để không bị coi là người kênh kiệu hay không chịu thích nghi. Gã mặc cho bọn thợ coi sự trò chuyện với gã là nhạt nhẽo và vô bổ. Gã là bậc thầy trong việc gây sự buồn tẻ cũng như đóng vai khờ dại vụng về, nhưng không quá trớn để người khác khoái chí cười nhạo hay trở thành đối tượng của những chuyện tiếu lâm trong phường hội. Gã đạt được mục đích là trở nên hoàn toàn không đáng chú ý. Người ta để gã yên. Gã chẳng mong gì khác hơn cả.

38

Gã ở miết trong xưởng. Gã bảo Druot rằng gã muốn tìm một công thức mới cho nước hoa Eau de Cologne. Thật ra gã thí nghiệm những loại nước hoa khác. Nước hoa gã trộn ở Montpellier sắp hết đến nơi dù gã xài rất ít. Gã trộn một thứ mới. Nhưng lần này gã không thỏa mãn với một mùi người tạm bợ bằng những vật liệu góp nhặt vội vã mà gã có tham vọng làm một, có thể nhiều, thứ nước hoa riêng cho gã.
Trước hết gã trộn thứ bình thường, hôi như chuột cho ngày thường, vẫn còn mùi người chua như phó mát nhưng chỉ tỏa  ra ngoài như xuyên qua một lớp dầy những len với dạ từ da khô khốc của người già. Với mùi này gã sẽ dễ hòa trong đám đông. Nó đủ mạnh để chứng tỏ về phương diện khứu giác sự có mặt của một người nhưng đồng thời kín đáo để không bị chú ý. Grenouille đúng ra không hiện hữu vì gã không có mùi, nhưng với cái mùi hết sức khiêm nhường này gã lại có mặt, một sự nhập nhằng rất hợp ý gã, dù là ở trong nhà bà Arnulfi hay đôi khi gã đi ra phố.
Dĩ nhiên trong một số công chuyện cái mùi này gây trở ngại. Chẳng hạn như khi gã đến nhà buôn, theo lệnh Druot hay do tự ý, mua một chút cầy hương hay dăm hột xạ hương thì vì cái mùi quá sức kín đáo nên có thể người ta không nhận ra sự có mặt của gã, do đó không tiếp hoặc có nhận ra nhưng lại bán lộn món hàng hay giữa chừng lại quên mất gã. Cho những dịp như thế, gã trộn một thứ nước hoa mạnh hơn, hơi có mùi mồ hôi, thêm chút ít nồng gắt, tạo một vẻ lỗ mãng làm người khác có cảm tưởng gã vội lắm, cần mua hàng gấp. Gã nhái y hệt aura seminalis [mùi tinh dịch (tiếng La tinh)] của Druot bằng cách cho hút mùi của bột mì rang nóng đánh với trứng vịt tươi vào một tấm khăn len bôi mỡ, với mùi này gã cũng gây được sự chú ý nếu cần.
Một loại nước hoa khác trong cái kho của gã có tác dụng gây sự thương hại, thành công ở các bà sồn sồn trở lên. Nó có mùi sữa loãng, mùi gỗ mềm và sạch. Với nước hoa này thì dù không cạo râu, mặt lầm lì và mang áo măng tô thì Grenouille vẫn giống như một thằng nhỏ xanh xao khốn khổ trong cái áo rách te tua cần phải được cứu giúp. Khi ngửi mùi này, các bà bán hàng ở chợ dúi cho gã hạt dẻ và lê khô vì thấy thằng nhỏ đói khổ quá. Còn bà vợ ông hàng thịt, một mụ nạ dòng khe khắt đừng có hòng mà xin xỏ, lại cho gã tha hồ chọn lấy không trong mớ thịt dư và xương ôi vì cái mùi ngây thơ của gã làm mềm trái tim bà mẹ trong người mụ. Những thứ bỏ đi này gã chiết tinh với rượu lấy thành phần chính cho một thứ mùi gã dùng đến khi nhất định không muốn bị ai quấy rầy. Nó tạo  quanh gã một lớp không khí có mùi hôi kinh tởm, hơi hôi thối như hơi thở từ những cái miệng chẳng bao giờ được săn sóc khi ngủ dậy. Nó hiệu nghiệm đến nỗi ngay một tay không khó tính như Druot cũng tự động quay đi, lảng ra xa mà không thật rõ cái gì đã xua hắn đi như thế.  Vài ba cái giọt đáng kinh tởm này trên ngưỡng cửa lều cũng đủ xua người lẫn vật tránh xa.
Tùy hoàn cảnh đòi hỏi mà gã thay những mùi khác nhau này như thay áo để khỏi lộ liễu trong thế giới con người và bản chất gã không bị phát giác, núp dưới những mùi này, Grenouille theo đuổi hết mình nỗi đam mê thật sự của gã: cuộc săn đuổi cực kỳ khéo léo mùi thơm. Vì có một mục đích lớn trước mũi, và vì còn những hơn một năm nữa nên gã bắt tay vào việc mài sắc vũ khí của gã, tức là rèn luyện kỹ thuật, từng bước làm cho những phương pháp của gã thêm hoàn hảo, không chỉ với một nỗi hăm hở cháy bỏng mà còn có kế hoạch một cách hệ thống. Gã tiếp tục những việc dở dang hồi còn làm cho Baldini, tìm cách lấy mùi của những vật vô sinh như đá, kim loại, thủy tinh, gỗ, muối, nước, không khí…
Những gì thất bại thảm hại trước kia với phương pháp chưng cất thô thiển, nay thành công nhờ sự hấp thụ mạnh của mỡ. Gã thích mùi mốc lạnh của một quả đấm cửa bằng đồng thau, thế là gã bọc nó trong mỡ bò mấy ngày. Quả nhiên, khi gã lột lớp mỡ, kiểm nghiệm thì thấy rõ có mùi nắm cửa, dù rất ít. Ngay cả sau khi đã rửa trong cồn thì cái mùi ấy vẫn còn ở đó, rất mỏng như ở tận đâu đó thật xa, bị che phủ bởi hơi rượu mà trên cái thế giới này chỉ có cái mũi nhậy của Grenouille mới nhận ra, nhưng đó có nghĩa là dùng được, ít nhất trên nguyên tắc. Nếu gã bọc chục nghìn nắm đấm trong mỡ rồi để yên một nghìn ngày thì gã có thể lấy được một giọt nhỏ xíu essence absolue của nắm đấm cửa đồng thau ngay sát mũi.
Gã cũng lấy được mùi vôi xốp của một cục đá lượm trên cánh đồng ô-liu ngay trước lều. Bằng cách ngâm bấy, gã lấy được một cục pomát nhỏ xíu mùi đá, cái mùi cực mạnh làm gã vui không thể tả. Gã trộn mùi này với đủ thứ mùi của những vật quanh lều và dần dà tạo ra được mùi của cánh đồng ô-liu phía sau tu viện Franciscain dưới dạng thu nhỏ, gã đem theo trong người cái mùi đã được nút kín trong lọ này để khi nào thích gã có thể dựng lại mùi của cả một cánh rừng ô-liu.
Đó là những mùi kiệt tác gã đã hoàn thành như những trò chơi nho nhỏ mà ngoài gã ra chẳng ai thấy hay ho hay chú ý đến. Riêng gã vô cùng hứng thú với sự hoàn hảo vô nghĩa này, trước kia gã không có và sau này gã cũng không có được những sung sướng thơ ngây như lúc này, say sưa trong trò chơi tạo nên mùi của phong cảnh, của tĩnh vật và của từng vật thể. Rồi gã chuyển sang các đối tượng sống.
Gã tìm bắt ruồi trong mùa đông, rồi bọ, chuột, mèo con; bó chúng trong mỡ ấm. Đêm đêm gã mò vào các chuồng trại để trùm khăn dính mỡ lên bò, dê, heo hay quấn chúng trong cái băng vải tẩm dầu trong vài giờ. Hay gã lẻn vào bãi chăn cừu, lén xén lông một con cừu non đem về rửa trong rượu tinh cất. Lúc đầu kết quả chẳng khả quan gì. Vì không như quả đấm cửa hay cục đá, lũ vật đâu để cho gã lấy mùi của chúng dễ dàng. Bầy heo cạ cẳng vào cột để làm tuột băng vải. Đám cừu be be khi gã cầm dao lẻn vào chuồng ban đêm. Lũ bò cứng đầu lắc bầu vú để hất khăn đi. Một số côn trùng gã bắt được lại xịt ra mùi hôi trong lúc gã lấy mùi, còn lũ chuột vãi phân vào chỗ pomát rất dễ bắt mùi, chắc là vì quá sợ. Không giống như hoa, những con vật gã muốn ngâm bấy không chịu cho mùi một cách dễ dàng mà chống cự một cách kịch liệt trước cái chết, giãy giụa nhất định không chịu để khuấy trong nồi, do đó toát quá nhiều mồ hôi làm hỏng nồi mỡ nóng vì quá chua. Như thế thì không thể làm ăn gì được. Chúng không được sợ hay giãy giụa mà phải yên ngay tức thì. Phải giết chúng.
Trước hết gã thử với một con chó con. Với một miếng thịt, gã dụ con chó rời khỏi mẹ nó từ lò mổ về tới xưởng, rồi trong khi nó vẫy đuôi mừng rỡ vồ miếng thịt gã cầm trong tay trái thì tay phải gã nện nhanh gọn lên gáy nó bằng một thanh củi. Cái chết đến quá nhanh nên ngay cả khi Grenouille đặt nó lên vỉ, giữa những tấm kính bôi mỡ trong phòng lấy mùi để lấy mùi thơm không lẫn mồ hôi của nó, vẻ vui sướng vẫn còn hiện nơi mõm và mắt của con vật. Dĩ nhiên phải cẩn thận. Xác chết cũng mau hư như hoa bị hái. Cho nên Grenouille canh xác con vật suốt mười hai tiếng cho đến khi có mùi xác chết toát ra, tuy mùi vẫn dễ chịu nhưng không thật đúng nữa. Tức thì gã chấm dứt enfleurage, vứt cái xác đi, rồi mang chút xíu mỡ mang mùi thơm lấy được ấy vào trong nồi, dùng cồn rửa thật kỹ. Rồi gã chưng cất chỗ cồn ấy chỉ còn bằng đầu ngón tay, đựng trong một ống thủy tinh nhỏ xíu. Nó rõ ràng có mùi lông chó ẩm, nhờn và hơi nồng, giống một cách hết sức ngạc nhiên. Cho nên khi Grenouille cho con chó mẹ ở lò mổ ngửi thì nó sủa vang mừng rỡ, ve vẩy đuôi, mũi nó như không muốn rời cái ống thủy tinh nọ. Grenouille nút thật kín, cất trong người và giữ một thời gian dài như để kỷ niệm cái ngày vinh quang này, cái ngày mà gã thành công trong việc lấy được hồn thơm của một sinh vật.
Rồi gã thử với người, từng bước một, hết sức thận trọng. Đầu tiên gã chỉ dám lén theo ở một khoảng cách bảo đảm, với một cái lưới mặt thưa, vì đối với gã cái chính không phải là mẻ lưới mà là để thử nguyên tắc phương pháp săn của gã.
Ngụy trang với loại nước hoa bình thường, không gây sự chú ý, tối tối gã trà trộn trong số khách của quán Quatre Dauphins để gắn những mẩu vải nhỏ xíu tẩm dầu và mỡ dưới ghế, bàn và trong những hốc tường kín đáo. Vài ngày sau gã gỡ về, kiểm nghiệm. Quả nhiên chúng có chút hơi hướng người trộn đủ với thứ mùi nhà bếp, mùi khói thuốc, mùi rượu vang. Nhưng cái hơi hướng người này chỉ lờ mờ vậy thôi, giống hơi thở nói chung hơn là một mùi riêng biệt. Grenouille cũng lấy được một khối lớn mùi người như thế, nhưng thuần chất hơn và mùi mồ hôi cũng siêu phàm hơn, bằng cách gắn những mẩu vải nọ dưới ghế nhà thờ vào ngày 24 tháng mười hai, rồi gỡ về vào ngày 26 tháng mười hai, sau khi đã có ít nhất bảy lượt người ngồi lên chúng xem lễ, một tập hợp mùi khủng khiếp biểu hiện trên những mẩu vải ấy, từ mùi hôi mông, máu tháng, mùi khoeo chân nhớp mồ hôi và bàn tay nắm chặt trộn với mùi hơi thở của ngàn cái miệng đồng ca và lầm rầm Ave Maria cùng với cái hơi làm ngộp thở của trầm và mật nhi lạp; một sự hội tụ u ám, mờ ảo, buồn nôn, khủng khiếp, nhưng rõ rệt là mùi người.
Một tay thợ bao bì mới chết vì bị lao phổi trong nhà thương thí, cái khăn trải giường hắn đã nằm hai tháng lẽ ra phải mang đi đốt nhưng Grenouille thuổng được, thế là gã đã kiếm được mùi riêng của một người. Tấm khăn đẫm những chất nhờn, cáu ghét của tay thợ khiến nó hút mùi hắn chẳng khác gì lớp mỡ vẫn dùng trong enfleurage nên có thể đem rửa với rượu ngay được. Kết quả thật đáng sợ: ngay dưới mũi Grenouille tay thợ làm bao bì sống dậy từ cõi chết, bồng bềnh trong rượu, tuy bị cái phương pháp tái tạo kỳ quái và đủ thứ chướng khí do bệnh của hắn làm cho méo mó nhưng vẫn nhận được qua bức tranh mùi-riêng-của-hắn, một tay cỡ ba mươi tuổi, tóc vàng, mũi tẹt, ngũ đoản, bàn chân bẹt hôi mùi phomát, của quý phồng to, hay cau có, hôi mồm, nghĩa là chẳng đẹp đẽ gì, mùi của hắn không đáng để giữ lâu như mùi con chó con. Tuy vậy Grenouille vẫn để cái hồn mùi ấy bồng bềnh trong lều, ngửi liên tục để sung sướng  và thỏa mãn vì cảm giác có được quyền lực trên cái tinh hoa của người khác. Hôm sau gã đổ đi.
Mùa đông này gã còn thử một lần nữa. Gã trả cho một mụ ăn mày câm một quan để mụ mang trên thân thể những tấm giẻ tẩm dầu, mỡ trộn nhiều kiểu khác nhau trong một ngày. Gã thấy rằng mỡ của thận cừu non trộn với mỡ heo và mỡ bò đã lọc nhiều lần trong tỷ lệ 2:5:3 , thêm một chút dầu mới ép sẽ hút mùi người nhiều nhất.
Grenouille thấy thử bấy nhiêu đó đủ rồi. Gã từ bỏ ý định bắt sống người để chế biến mùi. Vì vừa nguy hiểm vừa không đem lại hiểu biết gì mới. Gã biết bây giờ gã đã rành cái kỹ thuật lấy mùi người rồi, không cần phải chứng minh tiếp.
Thật ra gã đâu quý báu gì mùi người. Gã có thể mô phỏng khá giống bằng những chất khác. Gã thèm muốn mùi một số người hiếm hoi nhất định: những người khêu gợi tình yêu. Họ là nạn nhân của gã.

39

Ra giêng bà quả phụ Arnulfi tái giá với tay thợ cả Dominique Druot và hắn vọt thành Maitre Gantier et Parfumeur. Có tiệc tùng linh đình đãi những ông thầy trong phường hội, đám thợ phụ được chiêu đãi kém hơn một chút, bà chủ sắm một cái nệm mới để chính thức chung sống với Druot và đem những áo quần màu tươi ra mặc. Ngoài ra mọi chuyện vẫn như cũ. Bà vẫn giữ cái tên Arnulfi quen biết, gia tài vẫn là của riêng bà, bà vẫn giữ tài chánh của tiệm và chìa khóa hầm, ngày ngày Druot phục vụ bà chủ theo đúng bổn phận rồi sau đó uống vang giải khát, còn Grenouille tuy đã thành thợ cả duy nhất, vẫn phải gánh phần lớn công việc cùng với đồng lương ít ỏi, ăn uống vẫn đạm bạc và chỗ ở vẫn tồi tàn.
Năm mới bắt đầu với một biển vàng hoa đậu, hoa dạ lan hương, hoa đồng thảo và hoa thủy tiên thơm mê mẩn. Vào một sáng chủ nhật của tháng ba, tức là khoảng một năm sau ngày tới Grasse, Grenouille đi đến khu vườn sát tường thành ở đầu kia thành phố xem sự thể ra sao. Gã đã chuẩn bị sẵn tinh thần đón mùi thơm năm trước vì gã biết khá rõ cái gì đang chờ đợi… thế mà khi gã đánh hơi thấy cái mùi ấy ở Porte Neuve, tức là còn nửa đường nữa mới đến chỗ tường nọ, tim gã đã đập mạnh hơn và máu nhộn nhạo trong huyết quản vì sung sướng, cái cây đẹp không gì sánh nổi vẫn còn ở nguyên đó, qua được một mùa đông mà không suy suyển, căng nhựa, cao lên, lớn ra, trổ nhiều cành hoa rực rỡ! Thơm nồng nàn hơn gã chờ đợi, nhưng không giảm sự thanh tao. Nếu năm trước còn là tản mạn, rời rạc thì nay đã kết thành một dòng thơm của nghìn màu chói lọi, không màu nào có thể tuột ra. Grenouille mừng rỡ thấy rằng nguồn của dòng thơm này sẽ ngày càng mạnh hơn. Một năm nữa, chỉ một năm nữa thôi, chỉ mười hai tháng nữa thôi, cái nguồn ấy sẽ đầy ứ và gã có thể tới lấy, hứng cái mùi thơm tuôn ra mãnh liệt ấy.
Gã chạy dọc theo tường thành tới chỗ giáp vườn. Dù cô bé không ở ngoài vườn mà ở trong nhà, cửa sổ khép kín thì mùi thơm của cô vẫn bay ra như một làn gió nhẹ. Grenouille đứng lặng. Gã không say hay choáng váng như lần đầu được ngửi. Mà gã có cảm giác sung sướng  của một người tình, đứng xa lắng nghe, nhìn ngắm người yêu và biết chắc rằng sang năm sẽ đến đón cô về. Thế đấy, con bọ chét cô độc, con người ghê tởm, con quái vật Grenouille chưa từng biết yêu, chưa từng biết rung động, lại đứng nơi tường thành ở Grasse này vào một ngày tháng ba ấy để yêu và vô cùng sung sướng  trước mối tình của gã.
Dĩ nhiên không phải gã yêu một con người, như cô bé trong nhà sau bức tường nọ. Gã yêu mùi thơm ấy. Chỉ mùi thơm ấy chứ không gì khác bởi vì trong tương lai nó sẽ là của gã. Gã thề năm sau sẽ đón nó về. Sau lời thề, lời hứa hôn kỳ quặc này, hứa chung thủy với chính gã và với mùi thơm của gã trong tương lai, gã rời khỏi nơi đó mà lòng đầy tin tưởng, gã qua Porte du Cours về lại phố.
Đêm ấy nằm trong lều, gã lại lôi cái mùi thơm ấy ra từ trong trí nhớ, gã không thể cưỡng được sự cám dỗ, gã lặn ngụp trong nó, vuốt ve và để được vuốt ve, thật sát, sát như trong mơ, như thể cái mùi ấy đã là của gã, của riêng gã rồi vậy, rồi gã yêu nó, và qua nó yêu chính gã, say đắm tuyệt vời một lúc lâu. Gã muốn đem cái cảm giác tự say mê mình ấy theo vào giấc ngủ. Nhưng vào chính cái lúc gã nhắm mắt lại và chỉ cần một hơi thở nữa thôi để đi vào giấc ngủ thì cái cảm giác kia rời bỏ gã, thình lình biến mất, trong lều chỉ có mùi chuồng dê lạnh và gắt thay vì mùi của gã.
Gã hốt hoảng chồm dậy, gã thầm nghĩ “sẽ sao đây, nếu cái mùi thơm mà tôi sẽ chiếm hữu… sẽ sao đây nếu nó hết đi? Mùi thơm trong trí nhớ còn mãi mãi nhưng mùi thơm ngoài đời sẽ phai đi. Sẽ thoáng qua. Và khi nó hết thì cái nguồn mà tôi vẫn hứng nó cũng sẽ không còn nữa. Rồi tôi sẽ trần trụi như xưa và lại phải dùng đến những thứ thay tạm. Không, tệ hơn xưa chứ! Vì tôi đã được biết và đã chiếm hữu được cái mùi thơm tuyệt vời ấy và tôi sẽ không thể quên nó được vì không bao giờ tôi quên được một mùi nào cả. Và thế là cả đời tôi sẽ phải sống nhờ vào sự hồi tưởng đến nó, giống như tôi vừa mới sống một giây lát nhờ vào sự tiền-hồi-tưởng tới nó, tới cái mà tôi sẽ chiêm hữu… Vậy thì tôi cần gì đến nó mới được chứ?”
Suy nghĩ này làm Grenouille vô cùng bồn chồn. Gã hết sức kinh hãi vì một khi chiếm hữu được cái gã chưa có thì nó sẽ lại mất đi không cưỡng lại được. Gã sẽ giữ được nó trong bao lâu? Vài ngày? Vài tuần? Có thể được một tháng chăng nếu như gã dùng nó hết sức dè xẻn. Rồi sao nữa? Ngay lúc này đây gã đã thấy trước những giọt mùi cuối cùng được vẩy ra, cái lọ con lại còn được tráng với rượu tinh cất để không còn chút nào của cái mùi gã yêu sót lại, ngay lúc này đây gã đã thấy, đã ngửi thấy cái mùi gã yêu ấy sẽ tan biến đi mãi mãi, không lấy lại được nữa. Sẽ giống như một cái chết kéo dài, một cái chết gây ra bởi sự tự bốc hơi từ từ cực kỳ đau đớn ra cái thế giới ghê tởm bên ngoài, ngược với sự chết ngạt.
Gã ớn lạnh. Gã thèm được bỏ quách những toan tính, bỏ đi ngay trong đêm. Gã muốn đi ngang qua những núi non còn phủ tuyết, đi suốt hàng trăm dặm đến vùng Auvergne để chui vào cái hang xưa, ngủ cho đến khi chết. Nhưng gã không làm thế. Vẫn ngồi yên, dù khao khát rất mãnh liệt. Gã không làm theo điều khao khát vì gã đã từng thèm được bỏ đi, rúc vào một hang nào đó. Gã đã biết rồi. Điều gã chưa biết là làm chủ được cái mùi thơm tuyệt vời như của cô bé sau bức tường thành. Ngay cả khi biết rằng gã sẽ phải trả giá đắt khủng khiếp vì mất mùi ấy sau khi chiếm hữu được nó, gã vẫn tha thiết được chiếm hữu và mất hơn là từ bỏ cả hai. Gã đã quen từ bỏ cả đời rồi. Nhưng chưa từng có rồi lại mất.
Sự nghi ngại biến dần kéo theo sự ớn lạnh. Gã thấy rõ máu nóng làm gã sống lại cùng với cái ý muốn làm những gì đã toan tính. Cái ý muốn này mãnh liệt hơn trước vì nó không phải chỉ hoàn toàn do thèm muốn mà còn do một quyết định có cân nhắc. Khi phải chọn giữa sự chết khô hay để rơi xuống đất thì con bọ chét Grenouille đã chọn khả năng thứ hai dù biết rõ lần rơi này sẽ là lần rơi chót. Gã lại nằm xuống, thoải mái giữa đống rơm, chăn và tự thấy rất anh hùng.
Nhưng Grenouille sẽ không phải là Grenouille nữa nếu gã tự thấy thoả mãn lâu dài với một cảm giác anh hùng mù quáng. Cái ý chí tồn tại và chiến thắng của gã quá bền bỉ, bản chất gã quá xảo quyệt, đầu óc gã quá khôn ngoan. Đúng, gã đã quyết chí chiếm mùi thơm của cô bé sau bức tường thành. Nếu chiếm được mùi thơm ấy mà không chết hay giữ được thật lâu rồi mới mất thì tốt hơn. Phải tìm cách giữ cho lâu. Phải khử sự bay hơi của nó mà vẫn giữ được đặc tính, đấy là cả một vấn đề trong ngành nước hoa.
Có những mùi thơm giữ được cả chục năm. Một cái tủ được cà với xạ hương, một miếng da tẩm với dầu quế, một củ long diên hương, một cái tráp bằng gỗ bách hương giữ mùi hầu như mãi mãi. Những loại khác như dầu chanh, cam chanh, tinh chất thủy tiên hay huệ và mùi thơm của nhiều loại hoa sẽ bay mất trong vài giờ nếu để chúng dưới dạng tinh chất ngoài không khí mà không được hãm. Nhà chế nước hoa đối phó với những hoàn cảnh tai hại này bằng cách hãm những mùi dễ bay hơi như thể xích chúng lại, kiềm chế cái thói bay nhảy; nghệ thuật ở đây là xích đủ lỏng để cho cái mùi bị hãm chừng như vẫn có tự do nhưng lại đủ chặt để nó không bay mất. Grenouille đã có lần gặp trường hợp khó khăn này và đã thành công một cách tuyệt hảo khi hãm cái mùi thơm phù du của hoa huệ với một chút xíu cầy hương, vani, labdanum, dầu bách, nhờ thế mới có được mùi thơm này. Tại sao không thể làm tương tự với mùi thơm của cô gái nhỉ? Tại sao gã lại phải dùng dưới dạng nguyên chất để phí phạm đi cái hương thơm quý nhất và mỏng mảnh nhất kia? Thô lỗ quá! Chẳng khéo chút nào! Có ai để nguyên kim cương không mài chăng? Có ai đeo vàng nguyên tảng quanh cổ không? Chẳng lẽ gã cũng chỉ là một thứ cướp bóc mùi thơm tầm thường như Druot hay như những tay chỉ biết ngâm bấy, chưng cất, ép hoa khác? Hay gã đúng là nhà chế tạo nước hoa vĩ đại nhất thế giới?
Gã kinh hoàng tự đánh vào đầu vì đã không sớm nghĩ ra; tất nhiên cái mùi thơm có một không hai này không thể nào dùng dưới dạng thô được. Phải coi nó như một viên ngọc quý nhất. Phải tạc một vương miện ở nơi cao quý nhất rồi kết với những mùi thơm khác mà vẫn vượt hẳn lên; mùi thơm của gã tỏa ra rực rỡ. Gã sẽ chế tạo một thứ nước hoa theo đúng những quy tắc nghệ thuật và mùi thơm của cô gái sau bức tường sẽ là cái hồn của nó.
Không thể dùng xạ hương, cầy hương, dầu hoa hồng, dầu hoa cam để làm những chất phụ trợ, làm đầu, mình, chân, tay, làm chất hãm được rồi. Chắc chắn thế. Một thứ nước hoa như thế, nước hoa người, cần phải có những thành phần khác...

40

Tháng Năm năm ấy người ta tìm thấy xác trần truồng của một cô gái mười lăm tuổi trên cánh đồng hoa hồng nằm giữa Grasse và Opio, một làng nhỏ ở phía đông. Cô bị một cú đập mạnh vào đầu. Người nông dân phát giác ra cái chết khủng khiếp nọ hoảng loạn đến nỗi tí nữa thì bị tình nghi, bởi vì đã run giọng khai với viên thiếu úy cảnh sát rằng ông ta chưa từng thấy một cái gì đẹp như thế, đúng ra ông ta muốn nói rằng chưa từng thấy một cái gì khủng khiếp như thế.
Đúng là cô gái rất đẹp. Cô thuộc loại phụ nữ chậm chạp, như thể được sinh ra từ mật ong sẫm màu, mịn màng, ngọt lịm và vô cùng hấp dẫn, chỉ cần một điệu bộ lừ đừ, một cái hất tóc, một cái quắc mắt chậm chạp như thể quất một ngọn roi cũng đủ chế ngự cả một căn phòng, trong khi cô bình thản đứng nơi trung tâm của trận bão, có vẻ không thèm biết đến cái sức hút không cưỡng lại được của cô đối với sự khát khao và linh hồn của cả đàn ông lẫn phụ nữ. Cô còn trẻ, rất trẻ, vẻ quyến rũ chưa bị giảm sút bởi sự đẫy đà. Hai đùi cô mịn và lẳn, bộ ngực như trứng gà bóc còn khuôn mặt hơi bè được ôm bởi mái tóc đen dày vẫn còn những nét thanh tao và những chỗ bí mật. Nhưng mái tóc cô không còn nữa. Kẻ sát nhân đã cắt và lấy mất cùng với quần áo.
Người ta tình nghi người Ziguener [một sắc dân du mục ở Châu Âu, còn gọi là người Bohemien]. Chẳng có gì mà người Ziguener không dám. Ai cũng biết họ dệt thảm từ quần áo cũ, nhồi tóc người vào gối và làm búp bê từ da và răng người treo cổ. Chỉ bọn Ziguener mới gây ra những tội ác ghê tởm như thế. Thế nhưng vào lúc ấy không có người Ziguener nào ở đấy cả, chung quanh đấy cũng không vì họ kéo qua đấy lần chót vào tháng mười hai.
Không có người Ziguener thì người ta nghi bọn Italia làm thuê. Nhưng cũng chẳng có người Italia nào ở đấy cả vì lúc ấy đối với họ còn quá sớm, tháng sáu họ mới đến vào mùa hoa nhài, vậy cũng không phải là họ. Sau đó đến lượt mấy người làm tóc giả bị tình nghi, người ta lục soát tìm tóc cô gái. Vô ích. Rồi đám người Do Thái, rồi đám tu sĩ bị coi là dâm đãng trong tu viện dòng Bénédict dù họ đã ngoài bảy mươi xa, rồi đến những tu sĩ dòng Cister, rồi những người của hội Tam điểm, rồi những người điên trong nhà thương thí, rồi bọn làm than, rồi bọn ăn xin và sau hết là những nhà quý tộc đồi trụy, đặc biệt là Hầu tước de Cabris, vì ngài đã lấy vợ tới ba lần, nghe nói ngài tổ chức những buổi xem lễ trác táng dưới hầm dinh thự của ngài, tại đó ngài uống máu trinh nữ để được cường dương. Tất nhiên chẳng có bằng chứng cụ thể nào, không ai trông thấy án mạng, không tìm ra áo quần và tóc nạn nhân. Sau ít tuần viên thiếu úy cảnh sát ngưng cuộc điều tra.
Giữa tháng sáu những người Italia đến hái thuê, nhiều người mang theo cả gia đình. Nông dân ở đấy thuê họ nhưng do án mạng, cấm vợ và con gái tiếp xúc. Cẩn thận vẫn hơn. Vì mặc dù trên thực tế họ không chịu trách nhiệm về vụ giết người nhưng trên nguyên tắc thì có thể lắm chứ, cho nên tốt nhất vẫn nên cẩn thận.
Mùa hoa nhài bắt đầu chưa lấy gì làm lâu đã xảy ra tiếp hai vụ giết người. Nạn nhân là hai cô gái đẹp, cũng thuộc loại lừ đừ, tóc đen, người ta lại cũng tìm thấy họ bị đánh sau gáy, nằm chết trần truồng trên cánh đồng hoa, tóc bị cắt mất. Lại vẫn không có dấu tích nào của thủ phạm. Tin dữ lan nhanh như một đám cháy rừng, những hành động thù địch với đám dân làm thuê có nguy cơ nổ ra thì được biết nạn nhân là hai cô gái Italia, con gái một người làm công nhật đến từ Genua.
Sự sợ hãi trùm lên khắp vùng. Người ta không biết phải hướng sự căm giận đầy bất lực vào ai. Vẫn còn có kẻ nghi cho bọn người điên hay ngài hầu tước đáng nghi nhưng không ai thật tin, vì bọn điên bị canh chừng cả ngày lẫn đêm, còn ngài hầu tước đã đi Paris từ lâu rồi. Thế là họ gần lại nhau. Các nông dân cho những người Italia làm thuê được vào ở trong các nhà kho, trước nay họ vẫn phải cắm trại ngoài đồng trống. Dân thị thành tổ chức những buổi tuần tra đêm trong mỗi khu vực. Viên thiếu úy cảnh sát cho tăng số lính gác cổng thành. Nhưng mọi biện pháp đều vô hiệu quả. Chỉ vài ngày sau vụ giết hai người, người ta lại tìm thấy xác một cô gái cũng bị giống như những vụ trước. Lần này là một cô thợ giặt trong tòa giám mục, quê ở đảo Sardinien, bị đánh chết ở gần hồ nước ở Fontaine de la Foux, nghĩa là ngay trước cổng thành. Trước sức ép của đám thị dân bị kinh hãi, các vị tổng lý cho thành phố cho tiến hành thêm một số biện pháp: kiểm soát gắt gao ở cổng thành, tăng cường tuần tra đêm, cấm phụ nữ ra khỏi nhà sau khi trời tối, tuy vậy trong mùa hè này, không tuần nào trôi qua mà không tìm thấy xác một thiếu nữ. Và toàn là ở tuổi chớm dậy thì, rất đẹp, tóc màu sẫm, rất quyến rũ. Chẳng bao lâu sau kẻ sát nhân cũng không chê những loại thiếu nữ chiếm đa số trong cư dân vùng đấy: mềm mại, da trắng và hơi đẫy đà. Gần đây nhất, ngay những cô gái tóc nâu hay vàng sẫm cũng trở thành nạn nhân, miễn là không quá gầy. Nơi nào cũng có nạn nhân của hắn, không chỉ chung quanh Grasse mà ngay cả trung tâm thành phố, thậm chí cả ở trong nhà. Con gái của một người thợ mộc bị giết trong một phòng riêng trên tầng thứ năm mà không ai nghe thấy một tiếng động nào, những con chó bình thường vẫn đánh hơi và sủa vang khi có người lạ lại chẳng ho he gì. Có vẻ như không thể sờ được tới tên sát nhân vì hắn vô hình, chẳng khác nào ma quỷ.
Người ta tức giận, chửi bới đám quan chức. Một chút xíu tin đồn đủ làm người ta bu lại. Một người bán rong suýt bị thảm sát chỉ vì nghe nói rằng trong bột tình yêu và các thứ khác lẩm cẩm của hắn có tóc con gái tán nhỏ. Nhà của ngài De Cabris và nhà thương thí suýt bị đốt. Một tối kia, nhà buôn khăn Alexandre Misnard bắn chết tên đầy tớ khi hắn về nhà vì ngỡ hắn là tên sát nhân. Ai có đủ khả năng thì gởi con gái đang lớn của mình đến họ hàng ở xa hoặc học nội trú ở Nice, Aix hay Marseille. Dưới sức ép của hội đồng thành phố, viên thiếu úy cảnh sát bị cách chức. Người thay ông ta là một hội đồng bác sĩ khám nghiệm xác những thiếu nữ bị cắt tóc kia xem họ còn trinh trắng không. Kết quả là hết thảy bọn họ đều còn trinh nguyên cả.
Lạ lùng làm sao, điều này thay vì giảm lại làm tăng sự khủng khiếp vì trong thâm tâm ai cũng nghĩ rằng các cô gái đã bị hãm hiếp. Và ít ra như thế người ta cũng còn biết được một động cơ của kẻ sát nhân. Bây giờ người ta chẳng còn hiểu ra làm sao cả, hoàn toàn bối rối. Ai tin vào Chúa thì tìm sự bình an trong cầu nguyện, mong rằng ít nhất nhà mình thoát khỏi bàn tay của ác quỷ.
Hội đồng thành phố gồm ba mươi vị, cả thị dân giàu, được trọng vọng nhất, lẫn những nhà quý tộc của Grasse, phần lớn họ là những bậc trí giả chống giáo hội, đến nay họ vẫn để cho giám mục được yên tuy rất muốn biến những tu viện, chủng viện thành những kho hàng, nhà máy; trong lúc cùng quẫn này, những vị đầy uy quyền và cao ngạo của hội đồng thành phố không ngần ngại hạ mình thảo một thư thỉnh nguyện nói rằng vì quyền lực trần thế đành bó tay, xin Đức ngài giám mục nguyền rủa và rút phép thông công tên ác quỷ đã giết hại các cô gái kia, theo gương bậc tiền nhiệm tôn quý của ngài đã làm đối với trận dịch châu chấu đe dọa đất nước năm 1708. Quả nhiên đến cuối tháng chín, tên sát nhân ở Grasse - đến lúc đó đã giết không dưới 24 cô gái tuyệt đẹp thuộc mọi thành phần xã hội - bị nguyền rủa và rút phép thông công qua yết thị cũng như trên bục giảng khắp các nhà thờ khắp thành phố và do chính đức giám mục tại bục giảng của nhà thờ Notre Dame du Puy.
Kết quả thấy rõ, chỉ hôm trước hôm sau đã không còn ai bị giết nữa. Không một xác chết nào trong tháng 10 và tháng 11. Đầu tháng 12 có tin từ Grenoble cho hay ở đó mới xuất hiện một kẻ giết người, hắn bóp cổ các cô gái rồi xé áo quần của họ thành từng nhiều mảnh và lột tóc cả búi. Mặc dù kiểu giết người thô bạo này chẳng khớp chút nào với kiểu giết gọn ghẽ ở Grasse, ai nấy đều tin rằng cùng một thủ phạm. Người dân thành Grasse làm dấu thánh ba lần vì thấy nhẹ cả người; tên ác quỷ không còn hoành hành ở đây nữa mà đã sang tận Grenoble, cách những bảy ngày đường. Họ tổ chức một buổi rước đuốc để tạ ơn đức giám mục và một lễ tạ ơn Chúa trọng thể vào ngày 24 tháng 12. Sang ngày 1 tháng Giêng 1766, các biện pháp an ninh được nới lỏng, lệnh cấm phụ nữ ra khỏi nhà vào ban đêm được hủy bỏ. Sinh hoạt cộng đồng và đời sống riêng tư bình thường trở lại mau lẹ không ngờ. Sự sợ hãi như bị quét sạch, không còn ai nhắc đến nỗi khủng khiếp mới mấy tháng trước còn bao trùm thành phố và vùng lân cận. Ngay cả trong những gia đình nạn nhân cũng thế. Như thể sự nguyền rủa của đức giám mục không chỉ xua đuổi kẻ sát nhân mà còn cả những ký ức về nó nữa. Người dân lấy thế làm hài lòng.
Chỉ những ai có con gái đang gần cái tuổi độc đáo kia vẫn không thể thả lỏng, vẫn phải canh chừng. Họ lo âu khi đêm xuống và sáng ra khi thấy con họ vui khỏe thì mừng rỡ cho dù không muốn nhìn nhận cái duyên cớ đã gây ra tình cảm như thế của mình.
-------------
Còn tiếp...

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét